Dàn bài phân tích nhân vật Mị trong truyện ngắn Vợ chồng A phủ của Tô Hoài.

dan-bai-phan-tich-nhan-vat-mi-trongtruyen-ngan-vo-chong-a-phu-cua-to-hoai

Phân tích tiểu sử nhân vật trong truyện ngắn Vợ chồng A Phủ của Đỗ Hoài Ái.

– Tô Hoài là nhà văn luôn tìm tòi, khám phá trong nhiều đề tài: trẻ em, người nghèo, miền núi. Các tác phẩm của ông giàu chất thơ, thể hiện sự hiểu biết của ông về cuộc sống và phong tục miền núi. Câu chuyện sống động và hấp dẫn. Tô Hoài có khả năng phân tích tâm lý nhân vật một cách tinh tế.

“sợi dây” in hàng loạt “Chuyện Tây Bắc” (1952), là kết quả chuyến đi thực tế kéo dài 8 tháng của nhà văn ở vùng Tây Bắc Trung Quốc. Các tác phẩm phản ánh cuộc sống đầy bi kịch và đen tối của các dân tộc thiểu số ở Tây Bắc Trung Quốc dưới sự áp bức của chế độ phong kiến ​​và thực dân. Đó là quá trình vùng lên thoát khỏi ách áp bức của thực dân và địa chủ.

– Nhân vật Mị là biểu tượng cao đẹp về sức sống tiềm ẩn của người phụ nữ bị áp bức.

1. Tôi vốn là một cô gái có khí chất tốt.

——Tôi là một phụ nữ trẻ và xinh đẹp tài năng: Trước khi trở thành cô dâu của Thống đốc Bacha, tôi là một phụ nữ ngây thơ và giàu có. Cô ấy có tài thổi sáo rất hay, vừa thổi kèn vừa thổi sáo giỏi, khiến nhiều chàng trai say mê.Biết bao người yêu ngày đêm dõi theo “Đứng trên tường nhà tôi”

——Tôi đã từng yêu và được yêu, luôn khao khát đi theo tiếng gọi của tình yêu

—— Cô ấy cũng là một người con có hiếu, biết cha mình nợ tổng đốc một món nợ, cô ấy sẵn sàng làm việc chăm chỉ để trả nợ cho cha mình. Tôi làm việc chăm chỉ và có giá trị sống tự do cao.

→ Em mang vẻ đẹp truyền thống riêng của người con gái dân tộc. Cô ấy có đủ phẩm chất để sống một cuộc sống hạnh phúc. Tâm hồn tôi đầy ước mơ.

2. Tôi là một cô gái có số phận bi thảm và bất hạnh.

– Mỵ phải về làm dâu để thoát nợ và chịu tủi nhục, khổ cực vì cha mẹ không trả nổi thống lý Pá Tra.

– Bị đối xử như nô lệ, bị đánh đập, trói suốt đêm và làm việc cực nhọc cả ngày → Tôi kiệt sức vì lao động và cơ thể tôi bị hành hạ.

——Đối với ta mà nói, số phận là cô dâu, thân thể là một đứa trẻ sống, và cuộc sống là cuộc sống của một nô lệ, thậm chí không phải là một người giúp việc được trả tiền, và cô dâu là một đứa trẻ lừa đảo nợ nần, là một đứa trẻ không được trả tiền. Sống và làm việc trên núi.

– Tôi còn nghĩ mình thua kém con ngựa hay con trâu.

——Tôi không mong đợi gì cả, tôi không có khái niệm về thời gian và không gian. “Suốt ngày ẩn mình, như rùa phá cửa” → Nghèo đói bị áp bức.

– Phòng em chật, cửa sổ “lỗ vuông, lúc nào trông ra cũng thấy trăng trắng, chẳng biết là sương hay nắng” → Căn phòng của em gợi không khí nhà tù.

→ Tôi mất hết cảm giác, ngay cả cảm giác về sự sống, sự sống và cái chết.

3. Sức sống tiềm tàng và khát vọng hạnh phúc ở nhân vật tôi.

* Lần 1: khi con dâu quỵt nợ:

– Tôi đang có ý định tự tử (nhận ra cuộc sống tủi nhục của mình) và không chấp nhận cuộc sống đó.

Xem cái chết như một phương tiện giải thoát là khẳng định niềm khao khát sống, khát khao tự do của chúng ta.

* Lần 2: Đêm tình mùa xuân:

——Trong Đêm tình mùa xuân, khát vọng sống sót lại một lần nữa trỗi dậy.

+ Không gian đêm tình mùa xuân: Cách soạn tự nhiên, nhân văn.

+ Tâm trạng của tôi: Ngồi hát thầm, uống cạn bát rượu. Mặt say nhưng lòng lại bồi hồi ngày xưa. Khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc của cặp đôi được đánh thức.

+ Khi bị Asư trói, Mị còn đang ngâm nga một bản tình ca theo tiếng sáo thì nàng chợt tỉnh và trở về với thực tại đau thương.

+ Tôi nghĩ tôi có 2 người:

  • Thầy thuốc: Từ từ vào phòng “Như một cái máy”.
  • Người tinh thần: bỗng vui như trẩy hội mùa xuân.

—— Ý thức lúc này: Asu không có trái tim, tôi muốn chết… Quá khứ thôi thúc tôi chống cự.

+ hành động “Cho một miếng mỡ vào khay đèn thắp lên, uốn tóc, mặc váy ra ngoài,…”, Những bước di chuyển đột biến nhưng vẫn phù hợp với tính cách của nhân vật, phù hợp với những tháng ngày khóc lóc và ăn lá ngón đã có từ đầu.

+ Bị trói trong góc: Tôi không biết mình bị trói, tôi vẫn nghe thấy tiếng sáo (tiếng sáo vẫn đưa tôi vào cuộc chơi).

→ Niềm khao khát, hạnh phúc mãnh liệt đến mức lấn át nỗi đau thể xác. Đó là sức sống mãnh liệt tiềm ẩn trong tâm hồn tôi, thường tiềm ẩn chờ cơ hội bùng phát.

– Tôi bước đi, và sợi dây nhắc nhở tôi về thực tế phũ phàng.Tiếng sáo thay bằng tiếng vó ngựa, nghĩ mà xót xa. “Thân tôi không bằng ngựa”.Tiếng sáo gọi bạn gợi nhớ ngày xưa êm đềm.Tôi lấy rượu ra và uống “Ừ, mỗi lần một bát” Nó như trút những khao khát, ước mơ và hận thù vào lòng. Có cảm giác “lấy ống mỡ ở góc nhà, cuộn lại một miếng cho vào bảng đèn để thắp sáng”, thắp sáng niềm tin và tạm biệt bóng tối. Nàng cầm một tấm áo muốn ra ngoài, nhưng lập tức bị A Dục trói vào cột, nhưng nàng vẫn thả hồn theo lạc thú.

→ Qua đoạn văn này có thể thấy khát vọng tự do của em rất mạnh mẽ. Nó thể hiện một cuộc phản kháng thầm lặng nhưng dữ dội chống lại ngục tù tinh thần đã giam cầm tôi bao nhiêu mùa xuân. Niềm hạnh phúc vừa vụt qua đã bị dập tắt một cách dã man, đó là bi kịch của người phụ nữ bị ngọn đèn đè nén, là tiếng than thở của biết bao người phụ nữ trong xã hội cũ.

* Lần 3: Mở khóa Ah Fu và truy đuổi Ah Fu vào ban đêm:

——Tâm trạng nhìn A Phủ bị trói:

+ Chứng kiến ​​cảnh A Phủ bị trói, bị tra tấn và dọa giết, ban đầu Mị không quan tâm. “Ngay cả khi A Phúc đứng đó với cái xác, vậy thôi.” → Hình ảnh thân quen làm tê tái cảm xúc.

+ Rồi: thấy nước mắt chảy dài trên mặt em, nghĩ đến cảnh bị trói “nước mắt không sao lau được” → xúc động, thương mình, thương người, đồng cảm với những người cùng cảnh ngộ.

+ Ngộ ra tội lỗi của Đạo Xương: Trói buộc mình, quá khứ đàn bà của A Phủ → ba số phận giống nhau, nhìn thấy hoàn cảnh của A Phủ, sự phi lý mà A Phủ phải chịu đựng là không có lối thoát ở tương lai, sống mà như chết. Tôi không sợ chết.

+ lúc này tôi “Làm sao có thể không sợ hãi” Mị cắt dây mây cứu A Phủ → Hành động tự phát bất ngờ, nhưng là kết quả của quá trình bị dồn nén, áp bức.

+ Đứng yên trong bóng tối rồi đuổi theo A Phủ, tránh Hồng Ngải tùy cơ ứng biến.

+ Biểu hiện cao nhất, mạnh mẽ nhất của khát vọng tự do → Cư xử đúng theo quy luật “tức nước vỡ bờ”, nhưng phù hợp với tính cách nhân vật.

→ Quá trình phát triển nhân cách phong phú và phức tạp. Cởi trói cho A Phủ là cởi trói cho đời. Chấp nhận kiếp trâu ngựa và khát khao được sống kiếp người, nhẫn nhịn và phản kháng là hai mặt trái ngược nhau của con người tôi, để rồi cuối cùng tinh thần phản kháng và khát vọng hạnh phúc đã chiến thắng.

——Tôi là một cô gái trầm tính nhưng mạnh mẽ, có sức sống tiềm tàng, hành động của tôi đã lật đổ cường quyền, thần quyền trên núi, tôi khao khát một cuộc sống tự do, bình đẳng. Qua cuộc đời và số phận của nhân vật Mị, tác giả khẳng định rằng mọi thế lực đen tối đều không thể dập tắt được khát vọng tự do, hạnh phúc của con người. Tác giả mang ước mơ hạnh phúc của người lao động. Họ sẽ vùng lên và giải phóng cuộc đời mình. Đó cũng là cái nhìn biện chứng về nhân sinh sau cách mạng.

3. Giá trị tư tưởng, nhân đạo của tác phẩm:

——Tác phẩm phản ánh cuộc sống nghèo khổ của người dân miền núi Tây Bắc dưới ách áp bức nặng nề dưới ách thống trị của bọn phong kiến ​​cấu kết với thực dân Pháp.

Mở ra cho nhân cách con đường vươn lên trở thành người CM, xóa bỏ mô hình PK – gắn đấu tranh giải phóng cá nhân với đấu tranh giải phóng giai cấp, đấu tranh giải phóng dân tộc.

→ Qua việc tạo hình nhân vật Mỵ, Tô Hoài đã tố cáo chế độ phong kiến ​​ở miền núi, đồng thời ca ngợi những phẩm chất cao quý của người dân vùng cao, đặc biệt là cậu bé Mèo. bản thân bạn.

+ Nghệ thuật đậm đà màu sắc dân tộc:

——Viết nên một bức tranh nên thơ tráng lệ cuộn về vùng Tây Bắc rộng lớn với điều kiện và phong tục địa phương, hình ảnh người dân nơi ruộng đồng thật hồn nhiên, trong sáng.

– Tạo hình nhân vật thành công, diễn biến tâm lý phức tạp.

→ Tô Hoài tập trung xây dựng nhân vật với những phẩm chất tốt đẹp qua một số chi tiết nhưng dễ nổi bật. Nghệ thuật khắc họa tâm lý nhân vật tài tình, chặt chẽ, lôgíc, biện chứng. Tô Hoài đã miêu tả tâm lý và sự đấu tranh trong tâm hồn tôi thật tự nhiên và sinh động. Ngôn ngữ không cầu kỳ, hình khối phong phú, mang đậm màu sắc Tây Bắc.

Nghị lực sống của Mị được Tô Hoài khắc họa vô cùng tinh tế và đặc sắc. Từ một kẻ tưởng như mất hết quyền con người, tâm hồn tôi như không còn tồn tại. Tuy nhiên, bằng nghị lực phi thường và khát vọng sống mãnh liệt, My đã tìm được hạnh phúc cho riêng mình, dám đương đầu với thử thách để rồi vượt qua. Nguyễn Khải từng triết lý “Hạnh phúc đến từ sự hy sinh gian khổ. Đời không có vạch đích, chỉ có ranh giới. Quan trọng là nghị lực để vượt qua thử thách.

Tham Khảo Thêm:  Qua bài thơ Đồng chí của Chính Hữu, hãy làm sáng tỏ ý kiến: Bài thơ, nhìn một cách tổng quát có vẻ đẹp của một loài hoa đồng nội. Ấy thế mà vẫn tốt tươi, càng ngắm nhìn càng đẹp, một vẻ đẹp khiêm nhường, giản dị.

Related Posts

Nghị luận: Cái mất đáng tiếc là thời gian. Cái mất đáng lo là cơ hội. Cái mất đáng buồn là niềm tin. Cái mất đáng sợ là tình người

Mất mát đáng tiếc là thời gian. Lo lắng mất mát là cơ hội. Một mất mát đáng buồn là niềm tin. Mất mát ghê gớm là…

Vẻ đẹp phong cách nhà Nho trong Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ và Bài ca ngắn đi trên bãi cát của Cao Bá Quát.

Vẻ đẹp phong cách nhà Nho trong Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ và Bài ca ngắn đi trên bãi cát của Cao Bá Quát….

Những lỗi thường bị trừ điểm trong bài làm văn của học sinh.

Những lỗi thường bị trừ điểm trong bài làm văn của học sinh. I. Những lỗi thường gặp trong bài làm văn của học sinh. 1. Lỗi…

Những lưu ý khi tiến hành làm bài văn nghị luận.

Những lưu ý khi viết luận văn. 1. Trước khi lên lớp học sinh phải phân tích đề. – Chỉ định định dạng tiêu đề. – Xác…

Cách làm bài văn nghị luận văn học không bị lạc đề.

Cách làm bài văn nghị luận văn học không bị lạc đề. A. Mở đầu. Trong khi làm bài văn nghị luận về tác phẩm văn học,…

Nghị luận: Thơ ca là cái đẹp đi tìm

tranh luận: thơ là vẻ đẹp được tìm kiếm. Một chuyên gia thẩm mỹ cho biết: Tất cả các thể chế chính trị đều qua đi, chỉ…

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *