Đề thi HSG Ngữ văn 10. Chủ đề 1: Lựa chọn con đường của bạn. Chủ đề 2: Qua nhân vật Thúy Kiều trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, hãy làm rõ ý kiến: “Nhà văn phải biết nghe, biết thấy, biết cảm xúc, biết suy nghĩ một cách khác thường, sâu sắc khác thường”.

câu Nội dung chính của việc thực hiện Xem câu hỏi một Luôn có hai con đường để bạn lựa chọn: con đường quá quen thuộc và con đường đầy thử thách, chông gai và bất ngờ.

Bạn sẽ chọn con đường nào?

8 điểm 1. Yêu cầu chung:

– Về kĩ năng: Có kĩ năng làm bài văn nghị luận xã hội về quan điểm, phương pháp, cách sống. Bố cục của tác phẩm đầy đủ, rõ ràng, mạch lạc, hành văn trôi chảy, hấp dẫn. Học sinh phải biết vận dụng tổng hợp các thao tác lập luận để bài làm có sức thuyết phục, lập luận chặt chẽ, đủ ý, rõ ràng và sáng tạo.

– Về kiến ​​thức: Chúng ta chọn con đường mình muốn đi, và chúng ta có những tình cảm và kinh nghiệm sống nhất định. Về bản chất, chủ đề đưa ra cách tư duy: tư duy dọc hay tư duy sáng tạo, chọn con đường bình yên hay con đường chông gai. Dù chọn con đường nào, lối tư duy nào thì người viết cũng phải có vốn sống và vốn kiến ​​thức nhất định.

2. Yêu cầu cụ thể:
Công việc này có thể thực hiện bằng nhiều cách, nhưng phải thuyết phục. Đây là một vài gợi ý: 2.1 Giới thiệu bài toán: 0,5 2.1 Vấn đề được giải quyết: 2.1.1.Giải thích vấn đề:

Trong cuộc sống, ai cũng có quyền lựa chọn cách sống cho mình. Tuy nhiên, lối sống đó phải phù hợp và mang lại những điều tốt nhất cho cá nhân bạn và xã hội. Vậy chúng ta sẽ chọn con đường nào: an phận trên con đường quen thuộc nhàm chán, hay tìm một hướng đi mới để khám phá, dấn thân và thử thách.

——Con đường ta đã đi là con đường quen thuộc. Trên con đường ấy, ta sẽ tìm được cảm giác bình yên, sẽ thấy mọi thứ thật gần gũi, thân thuộc. Ấy vậy mà nó lại là con đường của sự tuân phục, buồn tẻ và có khả năng bóp nghẹt khát vọng khám phá, sáng tạo của con người.

——Con đường chúng ta sắp đi là một con đường mới, nhiều chông gai, bất ngờ và ẩn chứa nguy cơ thất bại. Tuy nhiên, đó là con đường của hoài bão sáng tạo, con đường của sự phát triển trong tương lai. Đây là con đường mà con người đã chọn trong quá trình tiến hóa.

2.0 2.1.2.Câu hỏi thảo luận:

– Con người luôn hướng lên, luôn khát khao sáng tạo, không bao giờ chấp nhận đi con đường của mình, con đường của người khác mà luôn muốn đương đầu với khó khăn thử thách. Điều này là do mọi người có lòng can đảm, dũng cảm, tham vọng sáng tạo và ước mơ bay.

Mỗi chúng ta phải chấp nhận rủi ro của sự thay đổi. Bằng trí tuệ và niềm tin, người dân đã hạn chế tối đa rủi ro này. Nỗi sợ hãi mà mọi người cảm thấy khi đứng ở ngã ba đường là một điều gì đó mới mẻ. Chỉ có lòng dũng cảm mới giúp con người vượt qua nỗi sợ hãi này. Chấp nhận thay đổi, vượt qua sợ hãi, giúp con người hiện thực hóa khát vọng chinh phục đỉnh cao và thỏa mãn đam mê sáng tạo.

Tham Khảo Thêm:  Suy nghĩ về tinh thần lạc quan qua câu nói "Hãy hướng về phía mặt trời, bạn sẽ không còn nhìn thấy bóng tối".

——Chọn con đường quen thuộc, tầm thường là chọn cuộc sống tẻ nhạt, chỉ những ai rụt rè, thiếu niềm tin, khát khao vươn lên mới chọn con đường đó. Đây là con đường cản trở sự phát triển…

4.0 2.1.3.Kết nối với chính mình. 1.0 2.1. 4. Bài học về tự chấp nhận và hành động:

– Đừng bao giờ chọn con đường cũ, lỗi thời, nhàm chán. Biết chọn con đường ước mơ, hoài bão và sáng tạo.

– Rèn luyện thường xuyên để có đủ niềm tin, dũng khí và sáng tạo vượt qua mọi thay đổi, vượt qua sợ hãi để bước trên con đường mới và thành công

0,5 chương 2 Hoài Thanh trong bài “Chân thực và tự do trong văn chương” đã nói về tài năng nghệ thuật và cá tính sáng tạo của nhà văn: “Nhà văn phải Biết nghe, biết nhìn, biết cảm, biết suy nghĩ một cách phi thường, với chiều sâu phi thường”.

Qua trải nghiệm văn học của Thúy Kiều (Truyện Kiều – Nguyễn Du), một nhân vật được xếp vào hệ thống thể loại truyện Nôm, bạn nên tìm hiểu những điều khác thường về Nguyễn Du.

12,0 điểm 1. Yêu cầu chung: Hiểu đúng vấn đề, nắm được cách viết bài văn nghị luận văn học, biết bày tỏ chính kiến ​​của bản thân, bài viết có sức thuyết phục. 2.Yêu cầu cụ thể: Thí sinh có thể trình bày theo một số cách khác nhau, nhưng cần đảm bảo các yêu cầu sau: 2. 1. Giới thiệu vấn đề cần nghị luận. 0,5 2. 2. Giải quyết vấn đề. 2. 2. 1. giải thích:

Một. “Biết nghe, biết nhìn, biết cảm, biết nghĩ”

– “Biết, nghe, nhìn”: khả năng nhạy bén lắng nghe, quan sát, nắm bắt, phân tích, hiểu, khám phá hiện thực; khả năng liên tưởng, tưởng tượng, liên tưởng phong phú, độc đáo (trí tuệ của nhà văn)

– “Biết cảm”: khả năng rung động, cảm nhận, biết vui-buồn, yêu-ghét… một cách sâu sắc trước những hiện thực của cuộc sống (cảm xúc của tác giả)

– “Tư duy”: khả năng phản ánh, suy nghĩ về con người và cuộc đời (tư tưởng của tác giả)

b. …“sâu sắc khác thường”

– khám phá mới về thực tế

– Có cách nhìn, cảm nhận và suy nghĩ độc đáo.

⇒ Đề cao tài năng, sức sáng tạo của nhà văn: nhà văn phải phát hiện ra những đối tượng thẩm mỹ có giá trị thẩm mỹ trong đời sống tự nhiên hàng ngày, chân thực và có ý nghĩa nhân văn sâu sắc, những đối tượng thẩm mỹ đó đẹp, mới lạ, sâu sắc; có sức lay động lòng người, có những phát hiện mang tính đột phá .

1.0 2. 2. 2. bàn luận.

Nhà văn và sự sáng tạo: Bản chất của văn học là sự sáng tạo. Một nhà văn thiếu cá tính, không tạo được tiếng nói, giọng điệu riêng là “văn chương tự sát”.

Tham Khảo Thêm:  Suy nghĩ về thói hay than vãn của một số người trong cuộc sống.

– Nhà văn – Hiện thực: Đối tượng của văn học là hiện thực khách quan. Đó là “cảnh sắc đất trời”, “vẻ đẹp, vẻ đẹp kỳ thú của cảnh quan thiên nhiên và tinh thần nhân văn”, “núi cao biển rộng, sự đời lạ lùng, nhân vật ly kỳ, cảm xúc mãnh liệt, Cảnh rực rỡ, vạn người Cảnh tang thương, hoang vắng” là “hình tượng quần chúng của một thời đại”. Một nhà văn nên tích cực tham gia vào cuộc sống phức tạp và chấp nhận dư âm của cuộc sống, thay vì đứng trên tòa nhà cao tầng và nhìn cơn bão dữ dội của cuộc đời bằng đôi mắt lạnh lùng.

+ Những quan sát của tác giả không chỉ dừng lại ở bề nổi mà còn đưa ra những phán đoán, nhận ra những quy luật, bản chất của cuộc sống, khám phá những điều chưa biết sâu thẳm trong lòng người. Văn học là tiếng nói của trí tuệ.

Nhà văn có rung động tình cảm mạnh: cội nguồn cốt yếu của văn chương là sự đồng cảm với con người. Văn học phải là tiếng nói của trái tim, tiếng nói của tình cảm thẩm mỹ như sự kính trọng, đề cao các vĩ nhân, sự bàng hoàng trước cái đẹp, nỗi đau trước bi kịch, tiếng cười của những kẻ thô tục, xấu xa, phi chuẩn mực…

+ Một trái tim dễ rung động trước thực tại sẽ trở thành động cơ và nguồn sáng tạo

– Tư tưởng của nhà văn: không chỉ có cảm nhận sâu sắc, tầm nhìn và chiều sâu cảm xúc, trình độ của nhà văn và tác phẩm còn phụ thuộc vào độ chín của tư tưởng. Đứng trước những vấn đề của cuộc sống nhà văn phải cố gắng khám phá bản chất của sự vật, hiện tượng… Đồng thời, nhà văn cũng phải có khả năng khái quát qua các sự vật, hiện tượng cụ thể, nhìn thấy cái chung trong cái riêng, nhìn nhận nhìn cuộc sống trong cái riêng.quy luật chung.

+ Chỉ vì phải trả giá bằng sự nghiên cứu để có được một quan điểm, một quan niệm hay để hiểu một sự thật thường bị che đậy nên những câu hỏi tác giả đặt ra sắc sảo, gay gắt và hóc búa. Có sức lôi cuốn mạnh mẽ người đọc.

2,5 2.2.3.Chứng nhận.

Thí sinh nắm vững thể loại truyện Nôm qua các tác phẩm cụ thể, nắm vững tác phẩm “Truyện Kiều”, phát hiện cái dung dị, sâu sắc, khác thường của Nguyễn Du qua nhân vật Thúy Kiều.

*Khẳng định: Nguyễn Du qua nhân vật Thôi Kiều trong Truyện Kiều đã mang đến cho nền văn học dân tộc một cách nghe, nhìn, cảm, nghĩ và tư duy khác thường, với một giọng điệu khác thường, sâu sắc. Mới mẻ và hấp dẫn.

Một.nghe, nhìn khác thường

– Tác phẩm khác: Lý tưởng hóa

+ Nhân vật được tạo dựng theo khuôn mẫu, nhân vật chính là những thanh niên nam nữ, cư sĩ, mỹ nhân với vẻ đẹp chuẩn mực về đạo đức, dung mạo, ngôn ngữ, ứng xử.

+ Hành vi của nhân vật: Dưới nhiều cách diễn đạt khác nhau, hành động theo một mô típ chung, dùng tình huống làm phép thử, để nhân vật khẳng định vẻ đẹp toàn vẹn, trong sáng về thể xác và tâm hồn, như một hình thức giáo dục đạo đức cho con người.

Tham Khảo Thêm:  Làm rõ quan điểm của Nam Cao và Vũ Trọng Phụng về đề tài phản ánh của tác phẩm nghệ thuật

+ Tính cách nhân vật: Nhân vật đã có tính cách, nhưng chỉ ở mức độ cá thể hóa cảm xúc của nhân vật.

– “Chuyện Hoa Kiều”:

+ Thúy Kiều – Nhân vật dị thường: Thúy Kiều do Nguyễn Du thủ vai xuất thân trong một gia đình trung lưu, tuy nhiên, thân phận của nàng những năm về sau lại là một mảng đời được khắc họa và gợi nhiều suy ngẫm. , nghĩ : thân phận ca sĩ , gái điếm .

+ Thúy Kiều – Hành vi khác thường: Hi sinh tình yêu (爱) để làm tròn đạo làm con (đạo hiếu), sống cuộc đời “bán quạt”.

+ Thúy Kiều – Tính cách khác thường: Tính cách tuyệt vời, từ ngoại hình đến hành động, lời nói đều giống “người này người nọ”.

b.Sự bất thường trong việc bộc lộ cảm xúc

+ Tác phẩm khác: Tác giả đứng ngoài quan sát, khách quan.

+ Nguyễn Du: Đắm chìm trong nhân vật, đau đáu nhân vật bằng trái tim “nặng tình đau thương”. “Khi Nguyễn Du viết “Hoa kiều”, ngòi bút nhuốm máu, nước mắt giàn giụa khắp trang giấy” (Mạnh Liên Dương, địa chủ).

c.ấp trứng và ấp trứng bất thường

– Cùng mang nội dung về tình yêu nam nữ nhưng Truyện Kiều là cách nhìn nhận, cách cắt nghĩa và thái độ thể hiện những câu hỏi tự đặt ra của bản thân về cuộc đời và những cảm nhận, suy nghĩ của con người trong cuộc đời. Quan Điểm Nhân Văn “Nhân Đạo Từ Tâm”.

– Các tác phẩm khác: phần lớn tập trung giải quyết mâu thuẫn giữa khát vọng tự do yêu đương với các giá trị đạo đức và nề nếp, lễ giáo chính thống (Truyện Nôm như

– “Truyện Kiều”: Thông qua các nhân vật, đặc biệt là Thúy Kiều, Nguyễn Du đặt câu hỏi về cuộc đời của nhân vật Thúy Kiều – một cô gái có nhan sắc, tài hoa, si tình – và thế lực xã hội (tiền bạc, quan hệ, kỹ nữ, quan trường…)

6,0 2.2.4.Đánh giámở rộng, nâng cao.

– Khẳng định lại chiều sâu của luận điểm: tài năng của nhà văn và vai trò của cá tính sáng tạo trong đời sống văn học.

– Các khóa học nghệ thuật và văn học:

+ Trách nhiệm của người nghệ sĩ: nhìn đời, nhất là cái “sâu, lùi, xa” của con người.

+ Tác động của văn học đối với người đọc: văn học phải giúp rèn giũa phần tình cảm, đáp ứng nhu cầu xã hội, đánh thức những ham muốn tiềm ẩn và khêu gợi sự phản kháng trong mỗi người. “Văn học làm cho ta cảm nhận được những tình cảm mà mình không có, rèn luyện những tình cảm mà mình có; cuộc đời phù phiếm hẹp hòi của con người nhờ văn chương mà trở nên sâu rộng gấp ngàn lần” (Hoài Thanh).

1,5 2.3.Kết thúc câu hỏi: Giải thích nghĩa của câu. 0,5

Related Posts

Nghị luận: Cái mất đáng tiếc là thời gian. Cái mất đáng lo là cơ hội. Cái mất đáng buồn là niềm tin. Cái mất đáng sợ là tình người

Mất mát đáng tiếc là thời gian. Lo lắng mất mát là cơ hội. Một mất mát đáng buồn là niềm tin. Mất mát ghê gớm là…

Vẻ đẹp phong cách nhà Nho trong Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ và Bài ca ngắn đi trên bãi cát của Cao Bá Quát.

Vẻ đẹp phong cách nhà Nho trong Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ và Bài ca ngắn đi trên bãi cát của Cao Bá Quát….

Những lỗi thường bị trừ điểm trong bài làm văn của học sinh.

Những lỗi thường bị trừ điểm trong bài làm văn của học sinh. I. Những lỗi thường gặp trong bài làm văn của học sinh. 1. Lỗi…

Những lưu ý khi tiến hành làm bài văn nghị luận.

Những lưu ý khi viết luận văn. 1. Trước khi lên lớp học sinh phải phân tích đề. – Chỉ định định dạng tiêu đề. – Xác…

Cách làm bài văn nghị luận văn học không bị lạc đề.

Cách làm bài văn nghị luận văn học không bị lạc đề. A. Mở đầu. Trong khi làm bài văn nghị luận về tác phẩm văn học,…

Nghị luận: Thơ ca là cái đẹp đi tìm

tranh luận: thơ là vẻ đẹp được tìm kiếm. Một chuyên gia thẩm mỹ cho biết: Tất cả các thể chế chính trị đều qua đi, chỉ…

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *