Nghị luận: Hễ làm người thì quý thẳng mà làm thơ thì quý cong… (Viên Mai)

Nghi ngờ

tranh luận: “Làm người thì tôi trân trọng, còn làm thơ thì tôi trân trọng…” (Vimai)

1. Giải trình ý kiến:

– Hễ là người thì phải biết quý trọng ngay: trung thực và đáng tin cậy

– Làm thơ là quý: Theo Viên Mai là cách nói gián tiếp, nghĩa là ngoại ngữ của thơ

⇒ Viên Mai nhấn mạnh thơ phải có tứ, có tiết, có súc.

2. Thảo luận:

– Viên Mai chú trọng đến hình thức biểu cảm của thơ. Nhà thơ không nói trực tiếp hay đầy đủ mà chỉ gợi mở, người đọc phải tự khám phá, suy nghĩ mới hiểu được nội dung.

-Thơ có giá trị bởi đặc điểm của thơ là thế giới hình tượng nghệ thuật được xây dựng qua ngôn từ phản ánh hiện thực. Ngôn ngữ thơ được đặc trưng bởi sự tinh tế và giản dị. Sức hấp dẫn của thơ nằm ở chỗ vượt lên trên quan niệm nghệ thuật của ngôn từ, tạo dư vị, dư vị và suy nghĩ sâu xa cho người xem.

Đọc thơ, đọc thơ là một quá trình khám phá đầy bất ngờ thú vị. Vì vậy, thơ “qu” có sức truyền tải lớn, tạo điều kiện để người đọc đóng vai trò chủ động trong hoạt động đọc hiểu.

3. Quan điểm của Viên Mai được sáng tỏ qua bài thơ Độc Tiểu Thanh Ký của Nguyễn Du.

– Nguyễn Du – Đại thi hào dân tộc, nhà thơ hiện thực và nhân đạo lớn nhất trong nền văn học Việt Nam thế kỉ XVIII. Tập thơ Thanh Tiên bằng chữ Hán thể hiện những cảm nhận sâu sắc của Nguyễn Du về thân phận con người – nạn nhân của chế độ phong kiến. Độc Tiểu Thanh Ký là một trong những tác phẩm nổi tiếng, thể hiện sâu sắc tư tưởng nhân đạo của Nguyễn Du.

– Đoạn thơ này là sự kết hợp hài hòa giữa lòng thương người khác với lòng tự ái, thương thân phận con người và trân trọng những phẩm chất cao quý của con người. Nghệ thuật thơ chữ Hán của Đường Lỗ thể hiện cảm xúc về kiếp trước của Nguyễn Du, giải thích cho lời đề nghị của Ôn Mạt, thể hiện rõ sự cô đọng và đẹp đẽ của ngôn ngữ thơ.

– Cảm hứng xuyên suốt bài viết được thể hiện trong khuôn khổ cô đọng của thể thơ “Thất ngôn bát cú”, những từ ngữ, hình ảnh mang tính tượng trưng đa nghĩa “ngoại ngôn”-nghĩa ngoài ngôn từ.

– Hai câu đầu là tiếng khóc của Tiểu Thanh. Không có nước mắt, không có tiếng nức nở, lời bài hát gợi cảm:

+ Nguyễn Du khóc thương Tiểu Thanh, thăm Tiểu Thanh không phải là mộ nàng. “Hồ Tây hoa cỏ dịu dàng”, Nguyễn Du không cố ý miêu tả vẻ đẹp của sông nước miền Tây mà mượn sự biến đổi của không gian để diễn tả một cảm nhận về sự đổi thay của cuộc đời. Mối quan hệ “vườn – đồi hoang” bao hàm biểu tượng về sự đổi thay của đất trời. Nhìn hiện tại và nhớ lại quá khứ, bài thơ đầy xót xa trước vẻ đẹp của quá khứ.

+ Nguyễn Du vừa khóc thương bà qua tập sách (đặc biệt là tập thư). Một chữ – người chết là người cô đơn, một chữ là nhất – người đến cũng là người cô đơn, hai tâm hồn cô đơn gặp nhau.Gặp Không Gian (Tân Thành Khu), Thời Gian (Gần 300 Năm Trước – Hiện Tại), Vật Chất (Chỉ Một Lá Thư) – Gặp Gỡ Tri Kỷ

+ Từ “điếu” không phải là tiếng “thút rít” mà là những giọt nước mắt lặng lẽ thấm. Khóc thể hiện sự cảm thông, đồng cảm. Hai bản dịch thoát ly nguyên tác và giảm bớt tính dung dị của thơ chữ Hán.

——Hai chân lý là sự hồi tưởng và cảm nhận về số phận của Tiểu Thanh. Nguyễn Du đã thể hiện sự kính trọng, ngưỡng mộ tài năng tinh thần của Tiểu Thanh và niềm xót thương cho số phận bi thảm của nàng bằng nghệ thuật tương phản và những từ ngữ hàm súc, ước lệ.

+ Nhưng nàng phải chịu bi kịch trên khuôn mặt và nhiều gian truân – may rủi tương đối. Bi kịch đến mức bị chôn vùi – vẫn còn cháy, bi kịch đến mức chết chóc, bi kịch đến mức không còn sự sống – không có gì

– Hai bài đồng cảm, đồng điệu với Tiểu Thanh:

+ Từ số phận của Tiểu Thanh, Nguyễn Du đã đúc kết những cách nhìn của nhân dân đối với xã hội phong kiến. Những người như Tiểu Thanh, Thuý Kiều, Đạm Tiên vì hên xui mà mang nỗi oan mà phải chịu số phận bị Gu Jin thương hại, có trời mới biết.

+ Đồng cảm, Nguyễn Du tự nhận mình “chẳng oan thì tự giải” và mình cùng hội cùng thuyền với kẻ chịu nỗi oan quái gở chỉ vì lễ độ. Cùng số phận bi đát, cùng tâm trạng, người yêu thương mình, Nguyễn Du yêu số phận của những con người bình thường trong cuộc đời.

——Cả hai kết thúc đều tự khóc. Nguyễn Du kết thúc bằng một câu hỏi lớn. Một câu hỏi có nhiều tầng nghĩa:

+ Nguyễn Du muốn nhìn vượt khung thời gian để tìm sự đồng cảm của hậu thế, chứng tỏ trong bi kịch hiện tại, Nguyễn Du hoàn toàn cô độc, không có người bạn tâm giao. Đó là một dạng tủi thân tột độ, vừa gây thất vọng vừa nhen nhóm hy vọng sống.

+ Emoji tự sướng đau đớn thể hiện sự nhận thức về bản thân, về mình. Khóc Tiểu Thanh, Nguyễn Du đang điếu văn khóc mình.

+ Bài điếu văn này cũng là sự thể hiện thái độ của Nguyền Dực đối với bộ máy phong kiến ​​đương thời.

4. đánh giá:

Lời thơ ngắn gọn, súc tích mà hàm nghĩa sâu sắc. “Ý trong tiếng nước ngoài” và “Làm nên thánh thi quý” Nguyễn Du không nói trực tiếp, cũng không nói toàn bộ mà chỉ gợi ý để người đọc tự khám phá và suy nghĩ. Bài thơ này thể hiện sâu sắc tư tưởng nhân đạo của Nguyễn Du và những thành tựu sâu sắc của ông trong thi ca Trung Quốc.

Chủ đề liên quan:

Tham Khảo Thêm:  Nghị luận: Bắt rễ ở cuộc đời hằng ngày của con người, văn nghệ lại tạo được sự sống cho tâm hồn con người...

Related Posts

Nghị luận: Cái mất đáng tiếc là thời gian. Cái mất đáng lo là cơ hội. Cái mất đáng buồn là niềm tin. Cái mất đáng sợ là tình người

Mất mát đáng tiếc là thời gian. Lo lắng mất mát là cơ hội. Một mất mát đáng buồn là niềm tin. Mất mát ghê gớm là…

Vẻ đẹp phong cách nhà Nho trong Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ và Bài ca ngắn đi trên bãi cát của Cao Bá Quát.

Vẻ đẹp phong cách nhà Nho trong Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ và Bài ca ngắn đi trên bãi cát của Cao Bá Quát….

Những lỗi thường bị trừ điểm trong bài làm văn của học sinh.

Những lỗi thường bị trừ điểm trong bài làm văn của học sinh. I. Những lỗi thường gặp trong bài làm văn của học sinh. 1. Lỗi…

Những lưu ý khi tiến hành làm bài văn nghị luận.

Những lưu ý khi viết luận văn. 1. Trước khi lên lớp học sinh phải phân tích đề. – Chỉ định định dạng tiêu đề. – Xác…

Cách làm bài văn nghị luận văn học không bị lạc đề.

Cách làm bài văn nghị luận văn học không bị lạc đề. A. Mở đầu. Trong khi làm bài văn nghị luận về tác phẩm văn học,…

Nghị luận: Thơ ca là cái đẹp đi tìm

tranh luận: thơ là vẻ đẹp được tìm kiếm. Một chuyên gia thẩm mỹ cho biết: Tất cả các thể chế chính trị đều qua đi, chỉ…

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *