Nghị luận: Hiền tài là nguyên khí của quốc gia. Nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh, rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu, rồi xuống thấp (Thân Nhân Trung)

nghi-luan-hien-tai-la-nguyen-khi-cua-quoc-gia-nguyen-khi-thinh-thi-the-nuoc-manh-roi-len-cao-nguyen-khi-suy-thi-the-nuoc-yeu-roi-xuong-thap-than-nhan-trung

“Hiền tài là nguyên khí của quốc gia. Nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh, rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu, rồi xuống thấp” (Thân Nhân Trung)

* Gợi ý làm bài:

1. Giải thích:

– Hiền tài: Trong quan niệm của người xưa, hiền tài là người có tài năng không những học rộng, hiểu nhiều mà còn có đủ tài giúp vua trị nước, đem lại cuộc sống thanh bình cho nhân dân. Hiền tài là người có cả đức hạnh, gương mẫu về đạo đức, suốt đời chăm lo, tu dưỡng phẩm hạnh cho bản thân, đem hết tài năng, đức hạnh phục vụ cho đất nước. Tóm lại hiền tài là những người có tri thức, đạo đức, có năng lực, tâm huyết và khát vọng cống hiến cho đất nước, dân tộc.

– Nguyên khí: là chất làm nên sự sống còn và phát triển của đất nước, xã hội.

– Cả câu: Khẳng định vai trò, tầm quan trọng đặc biệt của hiền tài đối với quốc gia dân tộc. Bậc hiền tài có ý nghĩa quyết định đến sự thịnh suy của đất nước.

2. Bàn luận, mở rộng vấn đề:

– Khẳng định tính đúng đắn của nhận định: Câu nói của Thân Nhân Trung là tư tưởng quan trọng, là sự tổng kết đường lối chiến lược về văn hoá giáo dục. Đây là một tư tưởng hết sức đúng đắn, tiến bộ, có ý nghĩa trong mọi thời, mọi quốc gia dân tộc. Bởi vì ở thời nào, ở đất nước nào thì hiền tài vẫn là người tạo ra phần lớn những giá trị vật chất, tinh thần, đặc biệt ở họ có khả năng phán đoán và nhận định tình hình sáng suốt hơn người thường.

– Nhà nước có chính sách chăm lo nuôi dưỡng, đào tạo và đãi ngộ thích đáng với người hiền tài. Trong thời đại của nền kinh tế tri thức, thời đại mở cửa và hội nhập toàn cầu, chính sách phát triển văn hoá giáo dục ở mọi quốc gia, đặc biệt là các nước phát triển ngày càng được chú trọng. Với nước ta, giáo dục luôn được coi là quốc sách hàng đầu.

3. Bài học nhận thức và hành động:

– Ý thức được vai trò, tầm quan trọng của hiền tài đối với đất nước.
– Có thái độ trân trọng với bậc hiền tài.
– Bản thân cố gắng học tập tu dưỡng để trở thành người có ích cho đất nước.


Bài văn mẫu:

Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc luôn gắn liền với vai trò của người hiền tài. Sự xuất hiện của người hiền tài có thể tạo nên những bước ngoặt của lịch sử. Bàn về vai trò của người hiền tài, Thân Nhân Trung nói: “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia. Nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh, rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu, rồi xuống thấp”.

Hiền tài là gì?

Hiền tài là người có tài cao, học rộng và có đạo đức cao quý. Như thế có thể hiểu hiền tài là những anh hùng, hào kiệt, học sĩ, danh sĩ,… trong xã hội. Nguyên khí là chất làm nên sự sống còn và phát triển của xã hội. Nghĩa là, nguyên khí chính là yếu tố cốt lõi, quan trọng nhất, là động lức phát triển của vạn vật.

“Hiền tài là nguyên khí của quốc gia” có nghĩa là người có tài đức là khí chất cơ bản làm nên sức mạnh và sinh khí của của đất nước. Người hiền tài nhiều tạo cho đất nước một sức mạnh vững chắc rồi lên cao. Người hiền tài ít ỏi, hiếm hoi sẽ làm thế nước yếu rồi xuống thấp.

Câu nói của Thân Nhân Trung khẳng định và đề cao vai trò quan trọng, không thể thay thế được của người hiền tài đối với sự thịnh vượng hoặc suy vong của đất nước.

Tại sao có thể nói “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia”?

Ý kiến của Thân Nhân Trung là hoàn toàn đúng. Người hiền tài có một vai trò quan trọng đối với đất nước. Đất nước thịnh hay suy phần lớn phụ thuộc vào sự xuất hiện của người tài.

Lịch sử đã chứng minh thời đại nào đất nước có nhiều người hiền tài, thời đại đó sẽ thịnh vượng, đời sống nhân dân được ấm no, hạnh phúc.

Lí Công Uẩn xuất thân bình dân nhưng mang chí lớn. Sau khi đánh tan quân xâm lược, dẹp yên bờ cõi, ông được tôn làm vua. Nhờ tư chất thông minh, tầm nhìn xa trông rộng, Lí Công Uẩn đã cho dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long mở ra một thời đại thái bình thịnh trị của đất nước.

Trần Nhân Tông, Trần Thánh Tông cùng các tướng tài ba như Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải, Trương Hán Siêu,… khi đất nước lâm nguy đã không tiếc máu xương đánh đánh tan giặc Mông – Nguyên, giữ yên bờ cõi, đắp đê ngăn sông, phát triển kinh tế, văn hóa. Không có hiền tài lúc ấy, có lẽ nhân dân ta đã phải thống khổ biết bao năm sau.

Thiên tài Nguyễn Trãi với tấm lòng ưu dân, ái quốc đã đem hết tài năng đánh giặc cứu nước. Giặc tan, nước yên, ông lại tiếp tục dốc sức xây dựng triều chính, chăm lo đời sống muôn dân, chiêu hiền đãi sĩ, kêu gọi hiền tài góp sức dựng xây đất nước.

Thời đại Hồ Chí Minh với những tên tuổi sáng chói như: Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp,… và biết bao hiền tài khác từ nước ngoài trở về cùng Bác lãnh đạo nhân dân đánh bại chế độ đô hộ hơn 100 năm của thực dân Pháp và cuộc xâm lược của đế quốc Mĩ, mở ra kỉ nguyên độc lập của đất nước.

Triều đại nào thịnh vượng cũng chứng tỏ triều đại ấy biết quý trọng hiền tài. Lịch sử cũng đã chứng minh thời đại nào “Tuấn kiệt như sao buổi sớm – Nhân tài như lá mùa thu” thì khí chất của đất nước suy vi xuống thấp. Một nghìn năm Bắc thuộc, hơn tám mươi năm nhân dân ta sống dưới ách đô hộ của thực dân Pháp là một minh chứng cho sự thiếu vắng bóng dáng của người hiền tài. 

Thái độ của đất nước đối với người hiền tài:

Người hiền tài có một vai trò quan trọng đối với đất nước. Do vậy, từ thời phong kiến, các bậc thánh đế, minh quân thường chăm lo bồi dưỡng người hiền tài bằng cách: tổ chức các kì thi để tuyển chọn, người đỗ đạt ban cho tước trật, bổng lộc, khắc ghi tên tuổi ở Văn miếu Quốc Tử Giám,…

Ngày nay, Nhà nước có nhiều chính sách quan tâm đến người hiền tài: thi chọn người tài, cấp học bổng cho du học ở nước ngoài; tuyển dụng vào các vị trí phù hợp,… Chính sách thu hút nhân tài từng bước được cải thiện, hết sức tránh hiện tượng chảy máu chất xám,… để những người tài năng có điều kiện cống hiến nhiều nhất cho đất nước.

Phê phán:

Hiền tài là nguyên khí của quốc gia. Nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh, rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu, rồi xuống thấp. Điều này hết sức đúng đắn và có giá trị đến muôn đời. Thế nhưng, trong cuộc sống, vẫn còn có nhiều người không biết quý trọng hiền tài. Hoặc do lòng đố kị, ganh ghét, hoặc do quá tự phụ vào bản thân mà có cái nhìn lệch lạc của các hiền tài đối với tổ chức và đất nước. Lại có nhiều nhân tài nhận được sự chăm lo chu đáo của nhân dân và đất nước, thế nhưng sau khi du học nước ngoài đã bị vật chất cám dỗ, không trở về phục vụ tổ quốc, đi ngược lại niềm tin và kì vọng của dân tộc. Những người như thế thật đáng lên án.

Hiền tài có một vai trò quan trọng đối với sự phát triển của đất nước. Để có thể trở thành một hiền tài, mỗi học sinh phải nỗ lực học tập, không ngừng tu dưỡng, rèn luyện của bản thân, sau này đem sức mình xây dựng quê hương, đất nước.


Bài tham khảo:

Năm 1484, trong thời kỳ cực thịnh của phong kiến Việt Nam, phải nói tới vua Lê Thánh Tông, người đã có công xây dựng một đất nước phát triển về mọi mặt: kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, đặc biệt là việc giáo dục và đào tạo nhân tài cho đất nước.

Lê Thánh Tông sau 25 năm làm vua (1460-1484), ngày càng nhận ra vai trò của hiền tài qua các bước thăng trầm của lịch sử. Ông đặc biệt quan tâm tới việc đào tạo, sử dụng và trọng đãi hiền tài. Đất nước không thể ổn định và phát triển nếu như không thu hút được những người có trí tuệ và tài năng góp sức vào sự nghiệp lớn của quốc gia.

Với tư tưởng nói trên, Lê Thánh Tông đã tổ chức việc học tập, hướng kẻ sĩ vào con đường chính thống của Nho giáo là tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Trong bốn điều Tu, tề, trị, bình ấy thì tu thân phải là gốc trong mọi ý nghĩ và hành vi suốt cả cuộc đời. Tu thân là phải đạt được ba đức tính Nhân, Trí, Dũng.

Với tinh thần ấy, Lê Thánh Tông giao cho Thân Nhân Trung, người cận thần mà ông quý trọng nhất, soạn một bài văn cho tấm bia đầu tiên ở Văn Miếu, để nói về ý nghĩa của khoa thi Hội năm 1442. Ý tốt đẹp của nhà vua là ở chỗ ông nêu lên vai trò của hiền tài như một điều kiện quan trọng bậc nhất để giành lại sự hưng thịnh cho đất nước.

Vâng mệnh nhà vua, Thân Nhân Trung thảo bài văn bia năm 1442 và bài văn bia 1487, qua đó ông đã phân tích và nêu lên những điều kiện cơ bản trong chính sách hiền tài của Nhà nước. Ông viết: “Hiền tài là nguyên khí quốc gia, nguyên khí thịnh thì đất nước mạnh và càng lớn lao, nguyên khí suy thì thế nước yếu mà càng xuống thấp. Bởi vậy các bậc vua tài giỏi đời xưa, chẳng có đời nào lại không chăm lo nuôi dưỡng và đào tạo nhân tài bồi đắp thêm nguyên khí”.

Thế nào là hiền tài? Hiền tài là người có cả tài năng và đức hạnh, đem hết tài năng và đức hạnh ấy phục vụ cho Tổ quốc. Người ấy vừa hiền lại vừa tài và nói như ngôn ngữ bây giờ, người ấy vừa có tài lại vừa có đức. Người ấy không những phải học rộng hiểu nhiều, có đủ tài giúp vua trị nước, đem lại cuộc sống thanh bình cho nhân dân. Người ấy còn phải là người gương mẫu về đạo đức suốt đời chăm lo tu dưỡng phẩm hạnh cho bản thân. Theo Thân Nhân Trung, đó là người: “Lấy trung nghĩa mà rèn luyện cho danh thực hợp nhau, thực hành điều sở học, làm nên sự nghiệp vĩ đại sáng ngời, khiến cho mọi người đời sau kính trọng thanh danh, mến mộ khí tiết, may ra trên không phụ lòng nhân dưỡng dục của triều đình, dưới không phụ công phu học tập thường nhật” (Văn bia 1487).

“Hiền tài là nguyên khí quốc gia”, hiệu quả câu nói của Thân Nhân Trung không chỉ dừng lại trong phạm vi xã hội thời Lê. Nó mang một ý nghĩa phổ biến đối với mọi quốc gia qua mọi thời kỳ lịch sử.

Bản thân sự ra đời của quốc gia đã đánh dấu một bước trưởng thành của một dân tộc ở cả lao động chân tay và lao động trí óc. Nhân dân là người làm ra lịch sử, nhưng lịch sử tồn tại và phát triển không dừng lại ở đời sống vật chất. Sự tồn vong và thịnh suy của một quốc gia còn phụ thuộc vào đời sống tinh thần, nghĩa là phải kể đến vai trò của trí thức, của những hiền tài, của những nhân vật kiệt xuất. Những người này, xuất hiện từ trong sự nghiệp sản xuất và chiến đấu của nhân dân. Họ gắn bó với nhân dân và dẫn dắt nhân dân trên con đường phát triển của quốc gia.

Dân tộc ta sinh ra và lớn lên trong hoàn cảnh thường xuyên bị đe dọa bởi thiên tai và địch họa. Dân tộc ta không thể tồn tại và phát triển nếu như không có tinh thần yêu nước và khí phách anh hùng của toàn thể nhân dân. Trên nền tảng vật chất và tinh thần ấy, trong lịch sử đã thường xuyên xuất hiện những tài năng lỗi lạc, đem thêm niềm tin và sức mạnh cho nhân dân và cùng nhân dân vượt qua mọi khó khăn, thử thách. Họ chính là những hiền tài của đất nước. Họ là nguyên khí của quốc gia, thể hiện tinh hoa của phẩm chất và tâm hồn được chắt lọc và nâng cao từ trong nhân dân. Không có hiền tài thì không thể có những thành công rực rỡ của nhân dân. Không có nền tảng vật chất và tinh thần từ trong nhân dân cũng không thể có hiền tài. Từ trong mối quan hệ giữa nhân dân và hiền tài, nảy sinh sức mạnh trường tồn của dân tộc.

Nguyễn Trãi khái quát ý nghĩa trên trong Đại cáo bình Ngô:

“Như nước Đại Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau
Nhưng hào kiệt đời nào cũng có”

Nước Đại Việt không thể tồn tại và phát triển nếu nhân dân ta không trở thành nhân dân một nước có văn hiến. Nguyễn Trãi không dùng khái niệm văn hóa mà dùng khái niệm văn hiến bởi văn hiến mang một nội dung rộng hơn. Văn hiến chứa đựng hai nhân tố: nền tảng văn hóa của toàn thể nhân dân; sự xuất hiện những hiền tài của đất nước.

Với tinh thần trên, Nguyễn Trãi đã giúp Lê Lợi đạt được những thắng lợi huy hoàng bởi ông dựa vào sức mạnh của nền văn hiến Việt Nam kết hợp được sức mạnh của toàn thể nhân dân với sức mạnh của đông đảo hiền tài.

Làm thế nào để có những bậc hiền tài như thế? Trước hết theo Thân Nhân Trung phải có một hoàn cảnh khách quan thuận lợi. Ông nói: “Nhân tài phồn thịnh vốn có quan hệ đến khí hóa của trời đất và cốt ở cái gốc giáo hóa của thánh nhân” (Văn bia 1487).

Có khí hóa của trời đất tức là nói hoàn cảnh thịnh trị của đất nước trong đó mọi sự, mọi vật đều phát triển tốt đẹp. Theo Thân Nhân Trung, đó là thời đại Lê Thánh Tông. Có sự giáo hóa của thánh nhân là nói về sự quan tâm đặc biệt của nhà vua đối với việc giáo dưỡng, tuyển chọn và đãi ngộ hiền tài.

Lê Thánh Tông tiếp tục sự nghiệp của Lê Thái Tổ và các vua tiền triều. Ông lấy việc xây dựng nhà học, bồi dưỡng nhân tài làm nhiệm vụ hàng đầu. Hơn thế nữa, Lê Thánh Tông còn mở rộng quy mô giáo dục ra toàn quốc. Đặc biệt, ông quý trọng hiền tài và sử dụng hiền tài trong xây dựng nền thịnh trị cho đất nước.

Có lẽ trước Lê Thánh Tông và sau Lê Thánh Tông, chưa có nhà vua nào đã thường xuyên theo sát việc giảng dạy và học tập như ông. Tại Quốc Tử giám, nhà vua chăm lo đến việc ăn ở của từng người. Qua các kỳ thi Hội đến thi Đình, nhà vua đích thân đọc các bài thi và tự mình gặp gỡ, xem xét từng người, sau đó tự mình chọn lấy những Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa và các Tiến sĩ. Thân Nhân Trung nói rằng: “Sự lựa chọn ấy là rất thận trọng”.

Để tuyên bố kết quả kỳ thi, nhà vua tổ chức một buổi lễ rất long trọng. Nhà vua ngự điện Kính Thiên, trăm quan mặc triều phục chúc mừng, treo bảng vàng ở ngoài cửa Đông Hoa, bàn dân thiên hạ chụm đầu ngắm xem đều bảo rằng: “Thánh triều văn minh, nhân tài nườm nượp thật là cuộc gặp gỡ chân chính thời thịnh vậy” (Văn bia 1487).

Ngoài việc đãi ngộ đầy đủ về vật chất và tinh thần theo như lệ cũ, nhà vua còn cho rằng việc lớn lao đẹp đẽ tuy lừng lẫy vang dội một thời nhưng lời khen tiếng thơm chưa đủ để truyền lại vạn đời. Nhà vua truyền lệnh dựng bia đá khắc tên những người thi đỗ và đặt ở cửa Quốc Tử giám. Mục đích của việc này là khiến cho mọi kẻ sĩ trong nước thấy mình được hâm mộ, như thế mà thêm phấn khởi, cố gắng rèn luyện danh tiết, cố gắng phục vụ hoàng gia.

Thân Nhân Trung phân tích kỹ hơn ý nghĩa việc khắc tên trên bia đá này. Trước hết kẻ sĩ chốn trường ốc, lều tranh, số phận nhỏ bé mà được triều đình đề cao như vậy thì cái chí của họ và lòng tự trọng khiến họ phải hết lòng báo đáp. Trong số những kẻ sĩ ấy cũng có kẻ vì hối lộ mà hư hỏng hoặc sa ngã vào cùng loại với bọn gian ác, là bởi vì lúc họ sống chưa được nhìn thấy tấm bia đá trinh bạch này thôi! Giả sử hồi đó họ kịp nhìn thấy thì ắt hẳn lòng thiện sẽ tràn đầy, ý ác được ngăn chặn, đâu dám làm chuyện càn bậy. Thế thì việc dựng tấm bia đá này, ích lợi biết chừng nào. Kẻ ác lấy đó làm răn, người thiện theo đó mà cố gắng. Làm sáng tỏ những điều đã qua, mở rộng dạy bảo cho hậu thế: một là để dài mãi tư chất danh tiết cho kẻ sĩ; hai là củng cố sự bền vững của quốc gia.

Với hai bài văn bia ngắn gọn, Thân Nhân Trung đã để lại cho đời sau những ý kiến vô cùng sâu sắc về vai trò của người trí thức, về chính sách đối với hiền tài, nhắc nhở đời sau một chân lý lịch sử: “Kẻ sĩ có mối quan hệ thật là quan trọng đối với sự phát triển của đất nước” (Văn bia 1487).

Hai tấm bia nói trên vẫn tồn tại ở Văn Miếu trên 500 năm nay, thường xuyên nhắc nhở các triều đại về chính sách đối với kẻ sĩ và đã luôn luôn chứng minh lời nói bất hủ của ông về sự thịnh suy của đất nước gắn liền với sự thịnh suy của hiền tài.

Với tinh thần nói trên, Thân Nhân Trung và các bậc hiền tài đồng thời với ông đã đóng góp hết sức mình trong việc xây dựng một thời đại hưng thịnh của đất nước với vua thánh, tôi hiền.

Là nhà văn hóa lớn, Thân Nhân Trung đã là Tao Đàn Phó Đô Nguyên súy cùng với Lê Thánh Tông cổ vũ cho nền văn học nước nhà. Là một người giữ trọng trách trong triều đình, ông đã nêu lên một tấm gương tài cao đức trọng khiến cho kẻ sĩ đời đời mến mộ.

Ngày nay dân tộc ta đang cùng cả nhân loại bước vào một thời kỳ đầy rẫy những sự kiện mới lạ chưa từng diễn ra trong lịch sử. Các quốc gia đang đi vào một sự hội nhập kinh tế rộng lớn trong xu hướng toàn cầu hóa và kinh tế tri thức. Sự kỳ diệu của trí tuệ con người đã cực kỳ nhanh chóng mở rộng sự phát triển của mọi ngành khoa học, đặc biệt là công nghệ thông tin, điện tử, sinh học… Một cuộc chạy đua gay gắt để sinh tồn và phát triển đang diễn ra trên toàn thế giới trong một thế bất bình đẳng giữa giàu và nghèo, giữa phát triển và lạc hậu, đặc biệt là giữa các siêu cường nắm trong tay hầu hết của cải vật chất và tinh thần với một bên là những nước vô cùng thiếu thốn đang tụt hậu trong hoàn cảnh đói nghèo và thất học.

Trong tình hình nói trên, Việt Nam đã chủ động hội nhập kinh tế và phát huy cao nhất trí tuệ, tài năng, nhanh chóng nắm được những thành tựu tinh thần của thời đại để có một tầm cao trong suy nghĩ và sáng tạo. Chính vì thế mà chưa lúc nào bằng lúc này, vấn đề đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng hiền tài trên đất nước ta lại được đặt ra một cách cấp thiết và cực kỳ quan trọng.

Thấu rõ câu nói của Thân Nhân Trung và ý thức được vai trò của hiền hiền đối với đất nước,   Đảng và Nhà nước đã coi giáo dục là quốc sách hàng đầu và nhấn mạnh vai trò cực kỳ quan trọng của văn hóa khoa học và đội ngũ trí thức trong sự nghiệp chung của đất nước hôm nay. Toàn thể nhân dân ta quyết một lòng nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài để kiến thiết quốc gia.

Tham Khảo Thêm:  Dẫn chứng là gì? Cách triển khai dẫn chứng trong bài văn nghị luận

Related Posts

Nghị luận: Cái mất đáng tiếc là thời gian. Cái mất đáng lo là cơ hội. Cái mất đáng buồn là niềm tin. Cái mất đáng sợ là tình người

Mất mát đáng tiếc là thời gian. Lo lắng mất mát là cơ hội. Một mất mát đáng buồn là niềm tin. Mất mát ghê gớm là…

Vẻ đẹp phong cách nhà Nho trong Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ và Bài ca ngắn đi trên bãi cát của Cao Bá Quát.

Vẻ đẹp phong cách nhà Nho trong Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ và Bài ca ngắn đi trên bãi cát của Cao Bá Quát….

Những lỗi thường bị trừ điểm trong bài làm văn của học sinh.

Những lỗi thường bị trừ điểm trong bài làm văn của học sinh. I. Những lỗi thường gặp trong bài làm văn của học sinh. 1. Lỗi…

Những lưu ý khi tiến hành làm bài văn nghị luận.

Những lưu ý khi viết luận văn. 1. Trước khi lên lớp học sinh phải phân tích đề. – Chỉ định định dạng tiêu đề. – Xác…

Cách làm bài văn nghị luận văn học không bị lạc đề.

Cách làm bài văn nghị luận văn học không bị lạc đề. A. Mở đầu. Trong khi làm bài văn nghị luận về tác phẩm văn học,…

Nghị luận: Thơ ca là cái đẹp đi tìm

tranh luận: thơ là vẻ đẹp được tìm kiếm. Một chuyên gia thẩm mỹ cho biết: Tất cả các thể chế chính trị đều qua đi, chỉ…

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *