Nghị luận: Người đọc xưa nay vẫn xem Truyện Kiều như một hòn ngọc quý cơ hồ không thể thay đổi, thêm bớt một tí gì, như một tiếng đàn lạ gần như không một lần nào lỡ nhịp ngang cung

Nghi ngờ

Bàn về ngôn ngữ Truyện Kiều, Hoài Thanh viết trong bài Đại thi hào Nguyễn Du: “Người đọc luôn coi truyện của Kiều như những viên ngọc quý không thể thay đổi, thêm bớt từng chút một, giống như một cây đàn kỳ lạ hầu như không bao giờ sai nhịp cung.”

Em hiểu ý kiến ​​trên như thế nào? Hãy giới thiệu tài năng ngôn ngữ của Nguyễn Du qua vài dòng Truyện Kiều.


1. Giải thích quan điểm của Hoài Thanh:

– “viên ngọc” gần như không thể thay đổi ít nhiều: ngôn ngữ”Câu chuyện Trung Quốc ở nước ngoài“Đẹp đến hoàn mỹ.

——”Âm thanh kỳ lạ của đàn tỳ bà hầu như không bỏ lỡ nhịp điệu của cây cung“: ngôn ngữ”Câu chuyện Trung Quốc ở nước ngoài“Phong phú, chính xác, sáng tạo, đa dạng.

⇒ Ý kiến ​​của Hoài Thanh đánh giá rất cao tài năng sử dụng ngôn ngữ Truyện Kiều của Nguyễn Du:

——Ngôn ngữ được lựa chọn cẩn thận, không thể thay đổi, không thể thêm bớt, và hoàn hảo đến mức như ngọc.

——Ngôn ngữ của “Hoa kiều” phong phú, sáng tạo như “tiếng đàn tỳ bà lạ lùng”, đặc biệt “kỳ quái”, nhưng không có tình huống vụng về như “tiếng đàn tỳ bà rò tiếng cung “.

⇒ Nguyễn Du là bậc thầy về ngôn ngữ thơ.

2. Chứng tỏ tài năng ngôn ngữ của Nguyễn Du trong “Hải ngoại kí”.

“Hoa kiều” có nhiều nhân vật, nhiều sự kiện, nhiều khung cảnh, nhiều tâm trạng, thậm chí xung đột với nhau, nhưng Nguyễn Du lại có kỹ năng ngôn ngữ hoàn chỉnh, có thể diễn đạt con người, sự vật và ý tưởng.

– Nghệ thuật khắc họa tính cách nhân vật qua một số miêu tả ngoại hình, từ ngữ… Thúy Vân, Thúy Kiều, Mã Giám Sinh, Hoạn Thư, Từ Hải.Mô tả theo quy ước ký hiệu và phong cách cụ thể

– Miêu tả: Tả cảnh thiên nhiên (cảnh xuân,…)

– Miêu tả tâm trạng: Nghệ thuật miêu tả tâm trạng của Thúy Kiều: nhớ người yêu, nhớ cha mẹ. Nghệ thuật miêu tả tính cách nhân vật thông qua một số miêu tả về ngoại hình, lời văn… Sáng tác của Thúy Vân, Thúy Kiều, Mã Giám Sinh, Hoạn Thư, Từ Hải.

– sự tinh tế của ánh trăng, cảnh sắc của một buổi chiều, lòng người,… trong mọi tình huống, hoàn cảnh.

3. Nguyên nhân thành công của Nguyễn Du

– Nguyễn Du đã nghiên cứu, trau dồi và vận dụng sáng tạo lời nói của nhân dân (vận dụng nhiều thành ngữ, tục ngữ, ca dao)

– Tinh thần dân tộc, tình yêu con người Việt Nam và quan trọng hơn là tài năng nghệ thuật có được qua cuộc hành trình gian khổ của Nguyễn Du

Tham Khảo Thêm:  Ôn tập luyện thi văn bản "Chuẩn bị hành trang vào thế kỷ mới" (Vũ Khoan)

Related Posts

Nghị luận: Cái mất đáng tiếc là thời gian. Cái mất đáng lo là cơ hội. Cái mất đáng buồn là niềm tin. Cái mất đáng sợ là tình người

Mất mát đáng tiếc là thời gian. Lo lắng mất mát là cơ hội. Một mất mát đáng buồn là niềm tin. Mất mát ghê gớm là…

Vẻ đẹp phong cách nhà Nho trong Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ và Bài ca ngắn đi trên bãi cát của Cao Bá Quát.

Vẻ đẹp phong cách nhà Nho trong Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ và Bài ca ngắn đi trên bãi cát của Cao Bá Quát….

Những lỗi thường bị trừ điểm trong bài làm văn của học sinh.

Những lỗi thường bị trừ điểm trong bài làm văn của học sinh. I. Những lỗi thường gặp trong bài làm văn của học sinh. 1. Lỗi…

Những lưu ý khi tiến hành làm bài văn nghị luận.

Những lưu ý khi viết luận văn. 1. Trước khi lên lớp học sinh phải phân tích đề. – Chỉ định định dạng tiêu đề. – Xác…

Cách làm bài văn nghị luận văn học không bị lạc đề.

Cách làm bài văn nghị luận văn học không bị lạc đề. A. Mở đầu. Trong khi làm bài văn nghị luận về tác phẩm văn học,…

Nghị luận: Thơ ca là cái đẹp đi tìm

tranh luận: thơ là vẻ đẹp được tìm kiếm. Một chuyên gia thẩm mỹ cho biết: Tất cả các thể chế chính trị đều qua đi, chỉ…

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *