Phân tích sức sống tiềm tàng của nhân vật Mị

phan-tich-suc-song-tiem-tang-cua-nhan-vat-mi-678

Phân tích sức sống tiềm tàng của nhân vật Mị

Tô Hoài là một trong những nhà văn lớn nhất của nền văn học Việt Nam thế kỉ 20. Vợ chồng A Phủ là tác phẩm xuất sắc nhất của nhà văn, kết quả của chuyến đi thực tế lên miền Tây Bắc trong phong trào viết về công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Tác phẩm đã khắc họa thành công nhân vật Mị – một cô gái Mèo xinh đẹp, tài năng nhưng bất hạnh phải sống cuộc đời con dâu gạt nợ cho nhà giàu. Song, ở Mị bên trong cái bóng lầm lũi, câm lặng ấy, người đọc luôn cảm nhận được một sức sống mãnh liệt.

Sức sống tiềm tàng là sức sống nội tại bên trong có sẵn ở bên trong nhưng bị che lấp nó như một hòn than âm ỉ cháy trong lớp tro nguội lạnh và khi có điều kiện thì sẽ bùng cháy. Mị giống như cây hoa đào hoa mận Tây Bắc: trước mùa xuân thì gầy guộc mong manh nhưng lại ẩn chứa một sức sống mãnh liệt ở bên trong để chờ ngày mùa xuân mà bung nở màu hoa đẹp nhất.

1. Trước khi bị bắt về làm dâu trừ nợ cho thống lý Pá tra, Mị là một cô gái:

– Trẻ trung,yêu đời, có khát vọng hạnh phúc.
– Cần cù lao động,hiếu thảo với cha.
– Có tài thổi kèn lá, được nhiều trai bản yêu mến…

Mị là một bông hoa của núi rừng Tây Bắc vừa có sắc vừa có hương, xinh đẹp, có tài thổi lá, thổi sáo, yêu lao động, tự do, hiếu thảo với mẹ cha và đang có một tình yêu đầu thật đẹp. Lẽ ra Mị phải được sống hạnh phúc nhưng vì món nợ với nhà thống lí mà Mị đã bị A Sử bắt về làm con dâu gạt nợ. Từ đó Mị sống câm lặng, lầm lũi như con rùa nuôi trong xó cửa và vật vờ như một cái bóng….

 2. Từ khi Mị bị bắt về làm dâu trừ nợ :

– Về thể xác: Mị bị đối xử chẳng khác gì nô lệ, bị bóc lột tận cùng sức lao động. Bị A Sử đánh đập hành hạ, trói đứng.Mị bị đẩy vào tình trạng câm lặng, “Mị tưởng mình là con trâu, con ngựa”, thậm chí còn không bằng con trâu, con ngựa.

– Về tinh thần: Cuộc sống tinh thần của Mị trong nhà thống lí Pá Tra bị định đoạt bằng buổi cúng ma ( bị thần quyền đe dọa). Cuộc sống hôn nhân không tình yêu. Mị phải sống với A Sử- một người mà Mị không hề có tình yêu thương. Với người phụ nữ, đây là bi kịch.  Mị mất hết cảm giác, thậm chí mất hẳn đời sống ý thức, sống mà như chết. Lúc nào cũng cúi mặt buồn rười rượi; “lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa”. Mị thật sự bị đẩy vào tình trạng Mị thật sự bị đẩy vào tình trạng cùng khổ về vật chất, bế tắc về tinh thần.

3. Sức sống mãnh liệt và khát vọng hạnh phúc của Mị:

– Lần 1: Mị định ăn lá ngón để tự tử. Ý thức về cuộc sống tủi nhục của mình. Mị không chấp nhạn kiếp sống “người – vật”. Mị tìm đến cái chết như một phương tiện giải thoát chính là hành động để khẳng định lòng ham sống, khát vọng tự do của mình.

– Lần 2: Trong đêm tình xuân, Mị muốn đi chơi:

+ Sự tác động của bối cảnh bên ngoài đối với sự trỗi dậy của Mị:

• Tạo điều kiện cho sự bừng tỉnh sức sống của Mị là thiên nhiên: Mùa xuân năm ấy ở Hồng Ngài đẹp và gợi cảm biết bao: Hồng Ngài năm ấy ăn tết giữa lúc cỏ gianh vàng ửng gió và rét rất dữ dội… Trong các làng Mèo những chiếc váy hoa đã đem ra phơi trên mỏm đá xoè như con bướm sặc sỡ… tiếng trẻ con nô đùa… Đó chính là một mùa xuân rộn rã âm thanh và màu sắc là bước đệm cho sự bừng tỉnh của một tâm hồn nguội lạnh.

• Tạo điều kiện cho sự bừng tỉnh sức sống của Mị là tiếng sáo: “Ngoài đầu núi lấp ló đã có tiếng ai thổi sáo rủ bạn đi chơi… Đó chính là tín hiệu đêm tình.Chính không gian rộn rã sắc màu cùng tiếng sáo tha thiết đã đánh thức cô Mị ngày xưa. Tiếng sáo như chạm vào nỗi nhớ. Mị nghe tiếng sáo vọng lại thiết tha bổi hổi. Tiếng sáo hối thúc Mị tiếng sáo như cơn gió thổi bung đi lớp tro tàn nguội lạnh đang phủ lấy tâm hồn Mị. Tiếng sáo nhập vào hồn Mị làm đồng hiện quá khứ tươi đẹp của một cô gái giàu tài năng. Bước nhảy tâm lý đầu tiên của Mị đó là việc Mị ngồi nhẩm thầm lời của người đang thổi sáo ” Mày có con trai con gái rồi/Mày đi làm nương/ Ta chưa có con trai con gái/Ta đi tìm người yêu”.

+ Chính tiếng sáo dẫn Mị đến hành động nổi loạn về nhân tính: Uống rượu: ” Mị lén lấy hũ rượu. Cứ uống ực từng bát”. Mị uống như nuốt cay nuốt đắng nuốt hận vào trong. Uống cho quên nhưng lại nhớ. Trong nhà thống lí là tù ngục ngoài kia là thiên đường tuổi trẻ.
Nhận xét: Rượu chính là chất men đánh thức phần đời đã mất của Mị. Rượu làm Mị sống lại một quá khứ đầy ắp niềm vui sướng: Ngày trước Mị thổi sáo giỏi. Có biết bao nhiêu người mê ngày đêm thổi sáo đi theo Mị. Sau bao nhiêu năm giờ đây Mị đã tìm lại được cảm giác ấy bằng hành động ” Mị uốn chiếc lá trên môi thổi lá cũng hay như thổi sáo”.

+ Đêm tình mùa xuân cùng với rượu và tiếng sáo đã làm cho Mị thay đổi. Cô gái của ban chiều đã khác cô gái bây giờ. Mị vui lắm “Mị thấy phơi phới trở lại trong lòng đột nhiên vui sướng như những đêm tết ngày trước”. Đó là niềm vui của một kẻ đã tìm lại được mình. Và Mị ý thức được rằng ” Mị trẻ lắm. Mị vẫn còn trẻ. Mị muốn đi chơi”. Đúng là bi kịch. Khi một người đàn bà chợt nhận ra mình còn trẻ trong hoàn cảnh trớ trêu này thì đúng là một bi kịch.

+ Đỉnh điểm của cảm xúc bi kịch ấy là nỗi tủi thân: Mị đã có cuộc sống không hạnh phúc với A Sử. Mị đã sống kiếp ngựa trâu. Đau đớn quá Mị khát khao “Nếu có nắm lá ngón trong tay lúc này Mị sẽ ăn cho chết ngay chứ không buồn nhớ lại nữa”. Muốn chết nghĩa là Mị không còn như trước nữa Mị muốn phản kháng lại hoàn cảnh. Mị đã không còn chấp nhận cái thực trạng ê chề này.

+ Từ đó Mị đi đến quyết định táo bạo: Bỏ nhà đi theo những đám chơi. Đó là một ý định giải thoát lặng lẽ nhưng vô cùng mãnh liệt : Mị đến góc nhà lấy ống mỡ xắn một miếng bỏ thêm vào đĩa đèn cho sáng” . Ngọn đèn được thắp lên. Ánh sáng của nó đã xua tan cái bóng đêm ảm đạm đang vây quanh Mị đang thắp lên ngọn lửa trong tâm hồn Mị. Một loạt các hành động gấp gáp được Tô Hoài diễn tả: “Mị quấn lại tóc Mị với tay lấy cái váy hoa vắt ở trong vách…Mị rút thêm cái áo”. Đó là nhu cầu làm đẹp bản thân trước lúc đi chơi. Mị làm tất cả thật bình thản và không hề để ý đến thái độ của A Sử. Chứng tỏ sức sống mãnh liệt trong Mị đang lớn hơn tất cả. Bóng ma thần quyền cũng không thể lớn hơn sức sống của Mị.

+ Ý định giải thoát của Mị không thành khi A Sử trở về: Hắn thẳng tay vùi dập tàn nhẫn sự trỗi dậy đó : Nó xách cả một thúng sợi đay ra trói đứng Mị vào cột nhà. Tóc Mị xoã xuống A Sử quấn luôn tóc lên cột làm cho Mị không cúi không nghiêng đầu được nữa…

+ Nhưng A Sử chỉ trói được thể xác Mị chứ không trói được tâm hồn của Mị bởi tâm hồn Mị đang tự do dạo chơi trong thế giới của khát vọng sống : Trong bóng tối Mị đứng im lặng như không biết mình đang bị trói. Hơi rượu nồng nàn Mị vẫn nghe tiếng sáo đưa Mị đi theo những cuộc chơi những đám chơi… Mị không biết mình bị trói nghĩa là cô không sống bằng thể xác nữa mà thực sự đang sống bằng tâm hồn và tiếng sáo gọi bạn tình đã nhập vào hồn Mị Mị vui sướng quá đến nỗi “vùng bước đi”. Và thực sự cô chỉ tỉnh khi “tay chân đau không cựa được”. Tỉnh rồi mới thấy lòng cay đắng ” Mị thổn thức nghĩ mình không bằng con ngựa”.

+ Cuộc trỗi dậy lần thứ nhất của Mị không thành. Mị không thoát khỏi căn nhà ấy dù chỉ một phút giây. Nhưng Mị đã không còn là con ngựa con rùa lùi lũi nơi xó cửa nữa. Mị đã sống lại những thời khắc của tuổi thanh xuân tươi trẻ và tự do. Vì thế khi bị A Sử trói lúc bàng hoàng tỉnh Mị chợt nhớ đến câu chuyện một người đàn bà trong nhà này bị trói đến chết không ai hay. Và Mị đã sợ ” Mị cựa quậy xem mình còn sống hay chết”. Mị còn muốn sống nghĩa là Mị còn ham sống. Lòng yêu đời trong cô gái Mèo ấy chưa hẳn là đã nguội tắt.

Cuộc trỗi dậy như một đợt sóng dâng lên rồi tràn ra. Nó không làm mảy may thay đổi cuộc đời Mị. Nhưng từ đó sóng ngầm vẫn không mất. Nó sẽ tuôn trào thành những đợt sóng mới mãnh liệt hơn lúc nào hết bằng chứng là hành động cởi trói cho A Phủ và cùng anh trốn khỏi Hồng Ngài sau này.

– Lần 3: Đêm mùa đông, Mị cởi trói cho A Phủ :

+ Chứng kiến cảnh A Phủ bị hành hạ có nguy cơ phải chết, lúc đầu Mị không quan tâm “dù A Phủ có là cái xác chết đứng đấy cũng vậy thôi”. Phải chăng đó là chứng tích của việc Mị bị đày đọa một cách đau đớn cả về thể xác và tinh thần làm cho Mị từ một phụ nữ nhân hậu trở thành vô cảm.

+ Khi thấy “ dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã đen xám lại” của A Phủ, Mị đã xúc động.” của A Phủ, Mị đã xúc động. Thương mình, thương người. Mị quyết định cởi trói cho A Phủ.

+ Mị đứng lặng trong bóng tối rồi chạy theo A Phủ trốn khỏi Hồng Ngài với một lí do “Ở đây thì chết mất”

⇒ Hành động tự giải thoát khỏi số phận tăm tối của Mị hoàn toàn mang tính tự phát:Cởi trói cho A Phủ cũng chính là Mị đã cởi trói cho cuộc đời mình.Chấp nhận cuộc sống trâu ngựa và khao khát được sống một cuộc sống của con người ; khát vọng hạnh phúc đã giúp Mị chiến thắng số phận tăm tối.

Tham Khảo Thêm:  Phân tích tâm trạng và hành động của nhân vật Mị trong đêm giải cứu A Phủ ("Vợ chồng A Phủ" - Tô Hoài)

– Qua việc khắc hoạ nhân vật Mị, Tô Hoài đã phần nào tố cáo chế độ thống trị của bọn thực dân phong kiến, ca ngợi phẩm chất cao đẹp của những người vùng cao nói chung và thanh niên người Mèo nói riêng. Họ biết yêu cái đẹp, lẽ phải để rồi vượt lên tìm lại chính mình.

– Sức sống tiềm tàng của nhân vật Mị được Tô Hoài khắc hoạ hết sức tài tình, độc đáo với những diễn biến tâm lý, tính cách phức tạp…


Bài tham khảo:

Sức sống tiềm tàng của nhân vật Mị trong “Vợ chồng A Phủ”

Sự nghiệp sáng tác của nhà văn Tô Hoài tính đến nay đã già nửa thế kỉ. Hơn 60 năm cầm bút ông là tác giả của hàng trăm đầu sách, hàng nghìn bài báo, thể loại phong phú, đa dạng. Thế nhưng nhắc đến Tô Hoài ta không thể quên được tsc phẩm “Dế mèn phiêu lưu kí”, tác phẩm tiêu biểu trước Cách mạng tháng 8. Sau Cách mạng, Tô Hoài lại tiếp tục thành công với tập Truyện Tây Bắc mà linh hồn của nó là Vợ chồng A Phủ, một tác phẩm xuất sắc viết về đề tài miền núi. Truyện xoay quanh cuộc đời của Mị, một cô gái Mèo nghèo khổ, xinh đẹp, nết na được Tô Hoài xây dựng chân thực và sống động với sức sống tiềm tàng bất diệt. Thông qua sức sống tiềm tàng của nhân vật Mị, ngòi bút của Tô Hoài đã bộc lộ là một ngòi bút nhân văn, nhân đạo sâu sắc và cao cả. Đúng như nhà văn hào Nga Sê-khốp đã từng nói: “Một người nghệ sĩ chân chính phải là nhà nhân đạo từ trong cốt tuỷ”.

a. Sức sống tiềm tàng của nhân vật Mị thể hiện trước hết ở phản ứng của Mị khi biết tin mình là con dâu gạt nợ cho nhà thống lí Pá Tra:

Mị vốn là một cô gái mèo xinh đẹp, nết na. Một người như Mị lẽ ra phải được sống cuộc đời hạnh phúc, nhưng trái lại, cô đã khổ từ trong trứng nước. Ngày xưa khi cưới nhau đã không có tiền, bố mẹ Mị đã phải vay của bố thống lí Pá Tra – tức ông của A Sử 10 đồng bạc trắng, mỗi năm phải trả lãi một nương ngô. Cho đến khi bố Mị đã già, mẹ Mị đã chết vậy mà món nợ ấy vẫn chưa trả được. Thống lí Pá Tra đến gạ bố Mị gả Mị cho A Sử con trai hắn làm con dâu gạt nợ. Biết vậy, Mị đã phản ứng lại ngay: “Con nay đã biết cuốc nương làm ngô, con phải ở nhà làm nương ngô trả nợ cho người ta. Bố đừng bán con cho nhà giàu”. Đây chỉ là một câu nói bình thường nhưng đã toát ra cả một con người. Đó là con người có sức sống tiềm tàng bất diệt.

Câu nói của Mị là một đánh đổi khắc nghiệt: Mị thà ở nhà lao động cực nhọc trên nương rẫy để được sống một cuộc đời nghèo khó trong tự do còn hơn phải làm con dâu cửa nhà giàu, sống kiếp đời trâu ngựa, nô lệ. Lựa chọn ấy chỉ có thể có được ở những con người mạnh mẽ, tự tin, biết quý trọng danh dự, nhân phẩm của chính bản thân mình. Có câu: “Thân gái như hạt mưa sa”, việc người con gai được sa vào cửa nhà giàu, đó là ước mơ, thậm chí còn là sự toan tính của nhiều người phụ nữ. Thế nhưng với Mị, một con người có sức sống tiềm tàng bất diệt thì Mị không chấp nhận điều ấy bởi Mị hiểu rõ gia đình nhà Thống lí Pá Tra. Đó là nơi hang hùm nọc rắn, Mị hiểu rõ bản chất của cuộc hôn nhân gả bán này: “Bố đừng bán con cho nhà giàu”. Rõ ràng chỉ là một câu nói giản đơn nhưng phần nào đã gợi mở cho người đọc thấy được ở Mị có sức sống tiềm tàng bất diệt.

b. Sức sống tiềm tàng của nhân vật Mị một lần nữa trỗi dậy khị bắt ép, Mị đã khóc rất nhiều và từng có ý định tự tử bằng lá ngón:

Mặc dù Mị phản ứng quyết liệt, Mị không chấp nhận vào nhà thống lí Pá Tra. Thế nhưng Mị đang sống trong xã hội tiền quyền và thần quyền. Đó là xã hội phong kiến ở miền xuôi thế nên những người hiền lành nết na như Mị không thoát được. Mị bị bắt cóc, bị lường gạt về cúng trình ma nhà thống lí Pá Tra chỉ đợi ngày chết rũ xương ở đó. Biết được điều này “có đến mất tháng trời đêm nào Mị cũng khóc”. Mị không chấp nhận cuộc sống ở nhà thống lí Pá Tra, ý định tự tử đã đến với Mị. Mị cầm nắm lá ngón trên tay về lạy chào cha để định quyên sinh. Nhưng khi về đến gia đình, Mị mới nhìn thấy rõ bi kịch gia đình mình, bố Mị nói như van xin trong làn nước mắt: “Mày về lạy chào tao để mày đi chết đấy à? Mày chết nợ tao vẫn còn, quan lại bắt tao trả nợ. Mày mà chết rồi không lấy ai làm nương ngô giả được nợ người ta. Tao thì ốm yếu quá rồi. Không được, con ơi!”

Sau khi Mị nghe những lời nói như van xin của cha, cô đứng trước hoàn cảnh éo le, oái oăm, cay cực. Mị sống không muốn, Mị chết không xong. Tuy nhiên việc Mị đã đến ý định tự tử lại thể hiện sức sống tiềm tàng, điều đó phải chăng là nghịch lý?

Mới nghe qua tưởng là nghịch lí nhưng ngẫm nghĩ lại trong hoàn cảnh của Mị đó lại là một điều hợp lí sâu sắc bởi vì Mị muốn chết như một con người còn hơn phải sống như một con vật. Mị muốn chết ngay một lần để được làm người còn hơn phải sống cứ chết dần, chết mòn, chết khô, chết héo, chết cả thể xác lẫn tâm hồn. Thế nhưng nếu làm theo sức sống tiềm tàng đang trỗi dậy mạnh mẽ trong lòng thì Mị phải chà đạp lên chữ “hiếu”, Mị không thể giày xéo lên tình phụ tử. Vì chữ “hiếu” Mị đành vứt nắm lá ngón, gạt nước mắt quay trở lại nhà thống lí. Nhà thống lí Pá Tra ở Hồng Ngài chả khác nào thiên la địa võng, dấn thân vào đó là dấn thân vào chỗ chết, vào địa ngục trần gian. Biết được điều này nhưng Mị vẫn chấp nhận vì thương cha.

Đọc đến đây ta nhớ đến bi kịch của Thuý Kiều hơn 200 năm trước “bán mình chuộc cha”. Hôm nay bi kịch ấy lại đổ dồn lên đôi vai gầy của người con gái Mèo nghèo khổ. Giữa những năm đó, miền Bắc nước ta đang tiến lên CNXH nhưng ánh sáng của Đảng chưa rọi tới cuộc sống của những người vùng cao. Là một chiến sĩ trên diễn đàn văn chương, nói như Hồ Chí Minh: “Văn học nghệ thuật là một mặt trận, anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy”. Tô Hoài thông qua “vợ chồng A Phủ” đem ánh sáng của Đảng rọi lên kiếp đời thổ ti lang tảo ở bản Mèo để “cứu đất cứu Mường”. Bắt đầu từ đây Mị sống khác hẳn, Mị không khóc như trước nữa. “Mị sống lầm lũi như con rùa nuôi trong xó cửa”, như cái bóng, cái xác vô hồn trong địa ngục trần gian. Mị sống chẳng qua là kéo dài những ngày chưa chết được, điều này đã được Tô Hoài thể hiện ngay ở mươi dòng đầu câu chuyện với những câu văn đầy tính tạo hình. Nhà văn đã dựng lên trước mắt chúng ta với sức sống tàn phai, mai một: “Ai ở xa về có việc vào nhà thống lí Pá Tra…cô ấy cũng cúi mặt, mặt buồn rười rượi”.

c. Tất cả những gì tưởng đã chết trong lòng Mị thì bây giờ lại được hồi sinh, hồi sinh một cách chóng vánh khi mùa xuân đến.

Phải nói rằng những trang viết về mùa xuân là những trang tuyệt bút của nhà văn Tô Hoài. Ta bắt gặp ở một nhà văn hiện thực lại có những trang văn lãn mạn. “Vợ chồng A Phủ” xứng đáng là một minh chứng cho lời nhận định: “Văn học Việt Nam giai đoạn 45-75 có sự kết hợp hài hoà giữa hai nhân tố hiện thực và lãn mạn”. Nhưng điều chúng ta quan tâm hơn cả là ngòi bút tâm lí của nhà văn Tô Hoài khi mô tả sự trỗi dậy sức sống tiềm tàng của Mị. Ông tỏ ra am hiểu những tâm lí phức tạp, âm thầm trong tâm hồn người phụ nữ:

Đầu tiên là sự thay đổi bên ngoài. Năm ấy mùa xuân về sớm hơn mọi năm. Tô Hoài mô tả những làn gió đem mùa xuân về trên khắp các bản làng. Những nương thuốc phiện đã nở hoa sặc sỡ, cả bản Mèo đều cuốn vào không khí của ngày hội. Trên những bản của người Mèo đó, trai gái đã mang váy áo ra phơi trên những mỏm đá trông sặc sỡ như những cánh bướm. Ban ngày trai gái mặc quần áo mới đến đánh quay, ném pao, tung còn,… Tất cả những hình ảnh này đã dội vào tâm hồn Mị – một tâm hồn khô cằn, nó làm cho sức sống của Mị bắt đầu có sự vận động, nó chẳng khác nào những nốt nhạc đầu tiên của bản nhạc tình ca thay đổi lớn sắp diễn ra trong lòng người đàn bà đã và đang phải chịu quá nhiều đau khổ.

Kế đó là tiếng sáo đêm tình mùa xuân. Trong không gian tiếng hát, tiếng sáo, tiếng khèn lá, khèn môi của trai bản gọi bạn tình cứ réo rắt nhau đi hết quả đồi này sang quả đồi khác. Nó đánh thức dậy những bài hát lâu nay tiềm ẩn sâu trong tâm hồn Mị. Mị ngồi nhẩm lại những bài hát ngày xưa. Ngày xưa, Mị thổi sáo thật tài, chỉ cần uốn lá trên môi, cô thổi lá hay như thổi sáo:

“Anh ném pao
Em không bắt
Em không yêu
Quả pao rơi rồi”

Hay:

“Mày có con trai, con gái rồi
Mày đi làm nương
Tao chưa có con trai, con gái
Tao đi tìm người yêu”

Nhưng điều đáng nói hơn cả là chính tiếng sáo ấy đã đánh thức dậy hai tiếng “ngày xưa” từ trong lòng Mị. Kể từ ngày bước chân vào nhà thống lí Pá Tra, Mị sống cuộc đời phi không gian, phi thời gian. Thế giới của Mị là một căn buồng tăm tối, nhìn ra bên ngoài qua ô cửa mờ mờ, trăng trắng, không biết ngày hay đêm, sương hay nắng. Khi mọt người không nhận thức được ngày, đêm, sương, nắng nghĩa là không nhận thức được không gian và thời gian, cũng đồng nghĩa với sức sống của họ đang tàn phai, mai một. Hôm nay thì khác, thời gian đã trở về với Mị, thời gian ấy cho Mị thấy hiện tại quá khổ đau, quá khứ ngày xưa mới là hạnh phúc. Thế là Mị luôn hướng về ngày xưa, hướng về quá khứ, muốn kéo dài quá khứ, muốn vớt vát quá khứ để bù đắp những cay đắng trong hiện tại.

Mùa xuân năm ấy, khi sức sống tiềm tàng của Mị trỗi dậy, nhà văn Tô Hoài rất khéo léo khi đưa bất cứ một hình ảnh nào đến với Mị thì hình ảnh ấy đều là chỗ dựa cho sức sống của Mị trỗi dậy. Nhất là bữa cơm tất niên trong gia đình nhà thống lí Pá Tra với hình ảnh của những người ốp đồng nhảy múa vui vẻ trong tiếng nhạc sinh tiền càng làm cho lòng Mị trở nên rộn ràng, náo nức. Niềm rộn ràng, náo nức ấy thực sự là nỗi thúc bách khi những người trong nhà thống lí mặc váy áo mới đi chơi.

Như vậy, sức sống tiềm tàng của Mị đã trỗi dậy, nó trở thành đòi hỏi bên trong muốn cất cánh ra bên ngoài. Rồi Mị lén lấy hũ rượu, Mị uống ừng ực từng bát, Mị uống như nuốt những tủi hờn, cay đắng vào trong lồng ngực. Mị uống như nuốt hiện tại khổ đau để trước mắt Mị giờ đây chỉ còn là quá khứ hanh phúc. Thế là Mị đang sống lại ngày trước với quãng đời thiếu nữ tự do, với hạnh phúc trong mối tình đầu. Việc làm tiếp theo của Mị khi cô bước vào căn buồng tăm tối ấy là Mị xoắn một miếng mỡ để vào trong đèn cho đèn sáng hơn. Đây không còn là chi tiết sinh hoạt nữa mà nó trở thành chi tiết có chiều sâu nghệ thuật bởi trước đây không thiết sống nên căn buồng của Mị tăm tối, hôi hám, luộm thuộm, ẩm thấp, bẩn thỉu… Mị cũng chẳng bận lòng.

Hôm nay thì khác, lòng yêu đời vừa mới trở về với Mị. Mị muốn đời mình phải sáng sủa hơn. Thế nên, hành động Mị khêu lên ánh sáng ngọn đèn cho sáng hơn cũng đồng nghĩa với việc Mị thắp lên ngọn lửa trong lòng mình. Mị thấy mình trẻ đẹp, Mị muốn đi chơi hội như bao người đàn bà có chồng khác ở Hồng Ngài. Mị chuẩn bị, sửa soạn đi chơi. Mị tìm cái váy hoa đẹp nhất của mình vắt tít trên vách. Khi một người đàn bà khổ đau sống lầm lũi như con rùa nuôi trong xó cửa, như cái bóng, cái xác vô hồn giữa địa ngục trần gian bỗng một hôm thấy mình trẻ ra, đẹp hơn, muốn ăn mặc đẹp, đó là dấu hiệu đầu tiên của sự tái xuân. Đó là lúc sức sống tiềm tàng trỗi dậy mạnh mẽ nhất trong lòng Mị.

Thế nhưng sức sống ấy đã bị dập tắt ngay lập tức, A Sử đã vùi dập nó một cách phũ phàng, hắn trói Mị băng một thúng dây đay từ chân lên đầu. Chưa bao giờ Mị lại cảm thấy nhục nhã như thế, sự so sánh đã bắt đầu xuất hiện trong Mị, Mị thấy mình không bằng con trâu, con ngựa trong nhà thống lí Pá Tra, khi mỏi còn được đổi tàu, còn được gãi chân, nhai cỏ, còn Mị khóc không tự lau được nước mắt. Cơ chừng sau lúc ấy sức sống tiềm tàng của Mị tắt hẳn.

d. Sức sống tiềm tàng của nhân vật Mị thực sự sống lại khi gặp bắt gặp giọt nước mắt lăn trên má A Phủ:

Cuộc đời của Mị sẽ cứ như thế cho đến chết nếu như Tô Hoài không để cho Mị gặp được một người. Người ấy đã tiếp cho Mị một sức mạnh vô cùng để một lần nữa sức sống tiềm tàng của Mị trỗi dậy để giải thoát đời mình, giải thoát người cùng cảnh ngộ, đó là A Phủ. A Phủ bị trói, bị bỏ đói hàng tuần lễ giữa những ngày mùa đông đầy sương muối ở vùng cao. Đêm nào Mị cũng dậy thổi lửa để hơ tay. Mị vẫn nhìn thấy A Phủ nhưng có lẽ sống lâu trong địa ngục trần gian, trong gia đình nhà thống lí mà việc đánh trói con người còn nhiều hơn cơm bữa nên lòng thương người của cô Mị nết na đã bị chai sạn, chai lì. Vẫn nhìn thấy A Phủ. Mị không động lòng thương nhưng hôm nay thì khác.

Chợt nghe thấy tiếng thở phì phì của A Phủ, Mị bất chợt nhìn sang và giật mình nhận thấy một chàng trai to khoẻ nhất bản giờ đây đã bị đánh đến tiều tụy, mặt sám lại, má hõm sâu, hai con mắt trũng sâu đầy bóng tối. Và đúng lúc đó, hai hàng nước mắt từ hai hố mắt lặng lẽ bò xuống hõm má. Mị cảm thấy không thể đành lòng, niềm thương cảm chợt dâng lên trong lòng Mị, Mị nhớ đến mình ngày trước cũng bị trói, bị đánh như thế. Thương mình Mị lại thương người, Mị ném ra câu nói như thế này trong bóng tối: “Ta là thân đàn bà nó đã trình ma nhà nó chỉ đợi ngày chết rũ xương ở đây, người kia việc gì phải chết…”

Khi một người đàn bà khổ đau, sống lầm lũi trong bóng tối bỗng một hôm ném ra câu hỏi như thế, đó là khởi đầu của sự nổi loạn. Sức sống tiềm tàng đã trỗi dậy thành sức mạnh, sức mạnh ấy đã biến một người đàn bà yếu đuối thành một người can đảm, biến một người nhẫn nhục trở thành một người phản kháng. Chưa bao giờ người đọc lại thấy Mị liều lĩnh như thế. Nghĩ đến cái chết Mị cũng không sợ nữa, ý định cứu A Phủ đã đến với Mị trong khoảnh khắc Mị rút dao cắt dây trói cho A Phủ. Cho đến vòng dây cuối cùng được cắt đứt, A Phủ quỵ người xuống rồi lại quật người đứng dậy chạy băng băng vào trong bóng tối. Đến lúc này đây, Mị vẫn chỉ nghĩ đến việc cứu A Phủ. Đến khi A Phủ chạy xuống cái dốc, Mị nhìn lại thấy nguy cơ mình có thể bị chết thay vào đó, ý định tự cứu mình đã đến với Mị, Mị nói: “A Phủ! Cho tôi đi!”. Đây là một câu nói của lòng ham sống trong giờ fút nguy cấp để giải thoát đời mình. Thế là hai người nô lệ giải thoát cho nhau, nương tựa vào nhau, trốn khỏi Hồng Ngài đến Phiềng Sa.

Việc Mị giải thoát cho A Phủ có thể coi như một chiếc bản lề khép mở hai thế giới. Nó khép lại thế giới tăm tối với kiếp sống trâu ngựa, nô lệ ở Hồng Ngài, đồng thời nó mở ra thế giới mới – thé giới tự do, tươi sáng ở phía Phiềng Sa. Với hành động này của Mị, nó đã đưa “vợ chồng A Phủ” trở thành tác phẩm bản lề trên diễn đàn văn chương Việt Nam. Nó khép lại những hạn chế của một dòng văn học hiện thực phê phán một thời. Nó mở ra một hướng đi mới cho văn học kháng chiến và đây nó trở thành mốc thách thức của chính nhà văn Tô Hoài. Đến Phiềng Sa, Mị và A Phủ đã gặp được ánh sáng của Đảng, gặp được cán bộ cách mạng A Châu. Và hai người đã tham gia cách mạng, chỉ có cách mạng mới soi sáng được kiếp người trâu ngựa, nô lệ. Và cũng chỉ có Mị và A Phủ mới là những người cách mạng trung kiên. “Vợ chồng A Phủ” mô tả quá trình bừng thức, vùng lên của kiếp sống nô lệ này. Ngòi bút của Tô Hoài đã thể hiện là ngòi bút nhân văn, nhân đạo sâu sắc và cao cả. Và “vợ chồng A Phủ” mãi là bài ca ca ngợi tự do, lòng yêu đời.


Bài tham khảo:

“Vợ chồng A Phủ” (1952) là một trong ba tác phẩm (Vợ chồng A Phủ, Mường Giơn và Cứu đất cứu mường) in trong tập Truyện Tây Bắc. Tác phẩm là kết quả của chuyến đi cùng bộ đội vào giải phóng Tây Bắc năm 1952. Đây là chuyến đi thực tế dài tám tháng sống với đồng bào các dân tộc thiểu số từ khu du kích trên núi cao đến những bản làng mới giải phóng của nhà văn. Thành công nhất của tác phẩm chính là việc khắc họa đậm nét sức sống tiềm tàng của nhân vật Mị, một cô gái xinh đẹp, giỏi giang nhưng có số phận bất hạnh, đáng thương.

Nhân vật Mị xuất hiện ngay từ đầu tác phẩm: “Ai ở xa về, có việc vào nhà thống lý Pá Tra thường trông thấy có một cô con gái ngồi quay sợi gai bên tảng đá trước cửa, cạnh tàu ngựa”. Đó là Mị, là con dâu nhà thống lí Pá Tra, một địa chủ miền núi khét tiếng giàu có và quyền lực.

Qua sự miêu tả của nhà văn, có thể khẳng định, Mị là một hình tượng đẹp về người thiếu nữ Tây Bắc. Ở Mị, toát lên cái đẹp vừa tự nhiên, giản dị vừa phóng khoáng, thẳm sâu như thiên nhiên núi rừng miền Tây Tổ quốc. Tuy nhiên, trái với những gì Mị đáng được hưởng, bi kịch đã đến với Mị một cách phũ phàng bởi cường quyền bạo lực và thần quyền hủ tục. Khi về làm dâu nhà thống lí, từ một cô gái trẻ xinh đẹp, giỏi giang, có tài thổi sáo rất hay, Mị trở thành một cô gái âm thầm, lẻ loi, sống như gắn vào những vật vô tri, vô giác.

Đọc hết tác phẩm, người đọc sẽ nhận thấy nhiều lần, sức sống, tình yêu cuộc sống và khát vọng được giải thoát của Mị bùng lên. Có lúc nó lặng lẽ, âm thầm, có lúc dữ dội, cuộn trào. Sức sống ấy thể hiện ở những phản ứng của Mị trước nghịch cảnh của mình.

Lần đầu tiên, là khi nghe cha nói vì món nợ từ lúc cha mẹ mới cưới, người cha đã gán nợ Mị cho nhà thống lí. Lúc ấy, Mị hết lời van xin cha để Mị chăm chỉ làm việc trả nợ nhưng cha Mị không còn cách nào khác, chỉ biết khóc trong nước mắt ân hận, xót xa. Mị không muốn bị bó buộc vào bất cứ thứ gì. Mị muốn được tự do lựa chọn hạnh phúc, được sống cuộc đời mà mình mong muốn. Thế nhưng, cuộc đời thật bất công. Chẳng ai có thể cứu được cuộc đời người con gái ấy.

Ngay khi mới bị bắt về làm dâu gạt nợ, Mị có ý định tự tử.Việc Mị định tự tử chứng tỏ Mị đã phản ứng. Đây là dấu hiệu của sự không chấp nhận cuộc sống ê chề khổ cực. Nói đúng hơn là muốn thoát khỏi cuộc sống hiện tại đầy đau khổ. Hành động chống lại đó được phát động bằng một sức sống tự nhiên vốn có của con người. Nhưng vì thương cha, Mị không thể  chết. Mị lẳng lặng quay về nhà thống lí chẳng khác gì trở về chốn địa ngục trần gian.

Hành động tìm đến cái chết của Mị biểu hiện cho sức mạnh phản kháng đầu tiên trước cường quyền. Từ đó, Mị sống lầm lũi, cam chịu, vật vờ như một cái bóng. Dường như Mị đã mất ý niệm về thời gian, về tuổi trẻ. Cuộc đời đối với Mị lúc bấy giờ chỉ là một đêm dài thăm thẳm mà thôi. Ngày trước, Thúy Kiều của Nguyễn Du đã vì chữ hiếu mà hi sinh chữ tình. Giờ đây cô Mị của Tô Hoài có gì khác đâu. Cô đành quên đi tuổi trẻ, đánh đổi tự do mà trả món nợ cho nhà giàu.

Tưởng rằng ở lâu trong cái khổ Mị đã hoàn toàn chai lì, chết mòn chết mỏi. Vậy mà, sức sống tiềm tàng của nhân vật Mị không bao giờ ngụi tắt. Thẳm sau trong tâm hồn người phụ nữ bất hạnh ấy vẫn âm thầm niềm khát khao được thay đổi. Khát khao này cứ âm ỉ tựa đốm than hồng bị vùi nén để khi gặp được ngọn gió lành  sẽ bùng lên thành ngọn lửa.

Ngọn gió lành đầu tiên khơi dậy sức sống tiềm tàng trong Mị chính là tiếng sáo gọi bạn tình vào một đêm mùa xuân. Ngày xuân, mọi người rộn ra lên nương. Khắp đó đây, không khí chuẩn bị cho ngày tết mùa khẩn trương và vui vè. Khung cảnh mùa xuân tươi xanh, khí trời ấm ấp không khỏi khiến cho lòng Mị nôn nao. Cho đến ngày tế, “tiếng ai thổi sáo rủ bạn đi chơi” – tiếng sáo gọi bạn tình “vọng” vào tâm hồn Mị “thiết tha bổi hổi”. Bữa cơm Tết cúng ma đón năm mới của nhà thống lí rộn rã “chiêng đánh ầm ĩ” và bữa rượu tiếp ngay bữa cơm bên bếp lửa tuy không xa lạ gì nhưng cũng đủ để cho Mị biết ngày tết đã đến.

Chẳng có gì xa lạ đối với Mị bởi Mị đã qua bao mùa tết ở đây. Thế nhưng, thật bất ngờ, chỉ trong mùa xuân năm ấy, trước tác động của ngoại cảnh, nhất là tiếng sáo, đã khiến tình yêu cuộc sống trong Mị rục rịch trỗi dậy. Bởi vì ngày trước Mị thổi sáo giỏi, bao nhiêu người mê, ngày đêm đã thổi sáo đi theo Mị. Tiếng sáo gọi bạn tình, “tiếng sáo rủ bạn đi chơi” chính là tiếng ca của hạnh phúc, là biểu tượng của tình yêu đôi lứa. Nó đã xuyên qua hàng rào lạnh giá bên ngoài để “vọng” vào miền sâu thẳm trong tâm hồn Mị, đánh thức cái sức sống vẫn được bảo lưu đâu đó trong cõi lòng người thiếu nữ Tây Bắc này.

Cũng chẳng biết vì sao, khi nghe tiếng sao réo rắt vọng về từ trên núi cao, Mị “ngồi nhẩm thầm bài hát của người đang thổi”. Trong không khí của một đêm tình mùa xuân, trong cái nồng nàn của bữa rượu ngày Tết, mị nhớ đến rượu, “Mị cũng uống rượu”. “Mị lén lấy cái hũ rượu, cứ uống ừng ực từng bát”. Ngày trước khi còn ở với bố, tết đến Mị cũng uống rượu nhưng không phải “lén”, không phải uống ừng ực từng bát như thế này. Phải chăng Mị uống rượu như thế thì có nghĩa là uống hận vào trong lòng, là đồng nghĩa với ý muốn đập phá một cái gì đó khi mà sức sống tiềm tàng trong lòng  đang bắt đầu cháy le lói.

Sau khi uống rượu, Mị say. Mị “thấy phơi phới trở lại, trong lòng đột nhiên vui sướng như những đêm Tết ngày trước”. Sau những giây phút tìm về quá khứ đầy hạnh phúc của đời mình, Mị cảm thấy mình “trẻ lắm”. Mị vẫn còn trẻ. Mị muốn đi chơi. Tiếng sáo từ núi xa không ngừng vọng về thúc giục. Bất chợt, Mị cảm thấy rõ hơn bao giờ hết cái vô nghĩa lý của cuộc sống thực tại: “Nếu có nắm lá ngón trong tay lúc này, Mị sẽ ăn cho chết ngay, chứ không buồn nhớ lại nữa”. Có lẽ, Mị hối hận bởi ngày xưa đã không chết vì lá ngón. trải qua những năm tháng cay cực ở nhà thống lí, sống không bằng chết, Mị thấy thật vô nghĩa và lãng phí.

“Trong đầu Mị đang rập rờn tiếng sáo”. Tiếng sáo như hối thúc Mị “quấn lại tóc”, “với tay lấy cái váy hoa vắt ở phía trong vách” để “đi chơi”. Những biến động mạnh mẽ trong tâm hồn Mị đã chuyển hóa thành hành động thực tế và hành động này dẫn đến những hành động tiếp theo không thể ngăn được.

Bị A Sử trói đứng bên cột nhưng Mị vẫn thả hồn theo tiếng sáo” Mị vẫn nghe tiếng sáo đưa Mị đi theo những cuộc chơi”, Mị vùng bước đi ” mặc dù tay chân đều không cựa được”. Vậy là Mị đã thực hiện một cuộc chơi trong tưởng tượng. Hơi rượu vẫn nồng say. Tâm hồn Mị như đã thoát ra khỏi cái thân xác, lúc này Mị không cảm thấy đau nữa.

Rõ ràng, cái khát vọng sống, niềm khát khao hạnh phúc vẫn được bảo lưu ở đâu đó trong sâu thẳm tâm hồn nhân vật Mị. Nó giống như hòn than vẫn đang âm ỉ cháy dưới lớp tro tàn nguội lạnh và chỉ cần một ngọn gió thổi tới là nó có thể bùng cháy một cách mãnh liệt. Những tác động của ngoại cảnh là không nhỏ nhưng cái sức mạnh tiềm ẩn, không thể nào dập tắt của con người mới là điều mấu chốt quyết định sức sống của Mị, của mỗi cá nhân. Hành động của Mị và ý định chơi xuân của Mị là biểu hiện của sự nổi loạn trong tâm hồn Mị. Mị muốn sống lại với tuổi trẻ, với tình yêu, muốn trở về với chính mình.

Dù bị dập vùi một cách tàn nhẫn nhưng không vì thế mà lòng ham sống và khát khao hạnh phúc trong Mị bị triệt tiêu. Trái lại, trong những hoàn cảnh đặc biệt nó còn bừng dậy một cách mạnh mẽ và chuyển hóa thành sức phản kháng táo bạo

Đêm tình mùa xuân qua đi, sức sống tiềm tàng của nhân vật Mị lại ẩm mình. Mị lại trở về với chính mình, vẫn làm lụng từ sáng tới tối và câm lặng. Thời gian cứ lặng lẽ trôi đi, cuộc đời Mị không có gì đổi khác. Cho đến khi, nhìn thấy giọt nước mắt của A Phủ lăn xuống trên gò má xạm đen, gầy gò và ánh mắt cầu xin, tuyệt vọng của A Phủ, khiến Mị giật mình. Mị giật mình nhớ lại Đêm năm trước A Sử trói Mị, Mị cũng phải trói đứng thế kia, nhiều lần khóc, nước mắt chảy xuống”. Nhớ lại cảnh ngộ của bản thân Mị vô cùng đau xót. Và từ chỗ thương mình, Mị đã thương A Phủ. Dòng nước mắt nơi A Phủ bỗng thức dậy niềm đồng cảm, lòng yêu thương ở người phụ nữ từng chịu nhiều đắng cay bất hạnh này. Thương mình, thương người, Mị càng nhận rõ tội ác của cha con thống lí. Và tình thương đã chiến thắng nỗi sợ hãi, trong phút chốc, Mị đi đến một hành động thật táo bạo, cắt dây trói, giải thoát cho A Phủ.

Trong khi làm việc ấy và đến khi cắt đứt sợi dây trói cuối cùng trên người A Phủ, Mị chỉ nghĩ đến chuyện chết thay chứ đâu đã định cũng chạy thoát khỏi nhà Thống lí. Nhưng khi đứng lặng trong bóng tối, nhìn theo A Phủ vừa chạy vừa lăn xuống dốc để rồi xa chỗ chết thì Mị lại không muốn chết nữa. Cô vùng chạy theo A Phủ “Ở đây thì chết mất” câu nói và hành động này của Mị chứng tỏ lòng ham sống trỗi dậy tự nhiên trong người con gái tiềm tàng khả năng phản kháng

Giải thoát cho A Phủ đồng thời Mị cũng tự giải thoát cho mình. Lí giải hành động quyết liệt này của Mị, trước tiên ấy là niềm đồng cảm sâu sắc giữa hai thân phận. Nếu như Mị là con dâu gạt nợ thì A Phủ là đứa ở trừ nợ. Cả hai đều phải đem tuổi trẻ, tự do của mình mà phải trả món nợ cho nhà giàu. Nhưng niềm đồng cảm là điều kiện cần chứ chưa phải là điều kiện đủ. Để đi đến hành động táo bạo ấy còn bởi trong Mị tiềm tàng một sức sống. Rõ ràng không phải người phụ nữ nào trong hoàn cảnh ấy cũng đều làm được như cô. Mị cắt đứt dây trói cho A Phủ cũng chính là cắt đứt sợi dây vô hình đang trói chặt cuộc đời cô. Điều này thể hiện khát vọng sống và khả năng phản kháng chống lại cường quyền và thần quyền.

Đây là hệ quả tất yếu sau những gì đã diễn ra ở Mị. Từ đêm tình mùa xuân ở Hồng Ngài đến đêm cứu A Phủ là một hành trình tìm lại chính mình và tự giải thoát khỏi những “gông xiềng” của cả cường quyền bạo lực và thần quyền lạc hậu. Đó cũng là sự khẳng định ý nghĩa của cuộc sống và khát vọng tự do cháy bỏng của người dân lao động Tây Bắc.

Với nghị lực phi thường và sức sống tiềm tàng mãnh liệt, Mị đã tìm thấy cuộc sống cho bản thân  và dám đấu tranh với những thử thách để rồi vượt qua. Rõ ràng khi xây dựng nhân vật Mị, nhà văn Tô Hoài hoàn toàn có ý thức làm nổi bật sức sống tiềm tàng của nhân vật Mị ngay trong cảnh ngộ tưởng chừng như buông xuôi cho số phận vì cuộc đời quá cay nghiệt. Sức sống tiềm tàng là một yếu tố quan trọng trong sự vươn lên để cứu lấy cuộc đời mình.

Đọc “Vợ chồng A Phủ” ta thấy Mị là bức chân dung tĩnh lặng. Hầu như trong thời gian ở nhà thống lí Mị chỉ nói có vài ba câu. Nhưng ẩn chứa trong tâm hồn câm lặng ấy, là một sức sống tiềm tàng mãnh liệt, một khát vọng lớn lao như mạch suối ngầm trong mát. Tiếp xúc với “Vợ chồng A Phủ” ta nhớ, ta yêu một cô Mị ở Hồng Ngài, càng bị đọa đày đau khổ, càng khát khao sức sống mãnh liệt để có thể hiểu hơn một cô Mị du kích Phiềng Sa sau này.

Related Posts

Nghị luận: Cái mất đáng tiếc là thời gian. Cái mất đáng lo là cơ hội. Cái mất đáng buồn là niềm tin. Cái mất đáng sợ là tình người

Mất mát đáng tiếc là thời gian. Lo lắng mất mát là cơ hội. Một mất mát đáng buồn là niềm tin. Mất mát ghê gớm là…

Vẻ đẹp phong cách nhà Nho trong Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ và Bài ca ngắn đi trên bãi cát của Cao Bá Quát.

Vẻ đẹp phong cách nhà Nho trong Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ và Bài ca ngắn đi trên bãi cát của Cao Bá Quát….

Những lỗi thường bị trừ điểm trong bài làm văn của học sinh.

Những lỗi thường bị trừ điểm trong bài làm văn của học sinh. I. Những lỗi thường gặp trong bài làm văn của học sinh. 1. Lỗi…

Những lưu ý khi tiến hành làm bài văn nghị luận.

Những lưu ý khi viết luận văn. 1. Trước khi lên lớp học sinh phải phân tích đề. – Chỉ định định dạng tiêu đề. – Xác…

Cách làm bài văn nghị luận văn học không bị lạc đề.

Cách làm bài văn nghị luận văn học không bị lạc đề. A. Mở đầu. Trong khi làm bài văn nghị luận về tác phẩm văn học,…

Nghị luận: Thơ ca là cái đẹp đi tìm

tranh luận: thơ là vẻ đẹp được tìm kiếm. Một chuyên gia thẩm mỹ cho biết: Tất cả các thể chế chính trị đều qua đi, chỉ…

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *