Dàn bài: phân tích cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng. Từ đó liên hệ với Từ ấy của Tố Hữu để nhận xét điểm giống và khác nhau về cảm hứng lãng mạn trong mỗi tác phẩm

dan-bai-phantich-cam-hung-lang-man-va-tinh-than-bittrang-trong-bai-tho-tay-tien-cua-quang-dung-tu-do-lien-he-free

Cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng trong bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng. Từ đó, liên hệ với bài “Từ ấy” của Tố Hữu, nhận xét những nét giống và khác nhau của cảm hứng lãng mạn trong mỗi tác phẩm.


1. Giới thiệu:

– Giới thiệu về đề tài luận án:

+ Cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng trong bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng.

+ Từ đó, liên hệ bài “Lời ấy” của Tố Hữu, nhận xét những điểm giống và khác nhau của cảm hứng lãng mạn trong mỗi tác phẩm.

hai. Thân bài:

Hướng dẫn: Thế nào là cảm hứng lãng mạn?

+ Lãng mạn ở đây không có nghĩa là chạy trốn thực tại, trốn chạy cuộc sống.Lãng mạn không có nghĩa là chấp nhận rủi ro, chạy trốn, từ chối hiện tại, như Huyền Đế từng viết

“Làm thi sĩ là ngủ với gió
“Du hành trăng mơ”

Lãng mạn là một khuynh hướng thẩm mỹ theo đuổi những gì cao cả, phi thường và đẹp đẽ trong cuộc sống. Như vậy, cảm hứng lãng mạn đem lại niềm tin, nghị lực, sự lạc quan để vượt qua khó khăn, hoạn nạn, hướng tới tương lai. Trong bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng, cảm hứng lãng mạn được thể hiện ở cái “tôi” đầy cảm xúc của tác giả. Điều đó còn thể hiện ở vẻ đẹp độc đáo, đa dạng của cảnh sắc thiên nhiên, ở hình tượng dũng sĩ, nghệ thuật của những người lính Tây Thiên.

+ Cảm hứng lãng mạn thường tìm đến yếu tố phóng đại, thủ pháp tương phản, tương phản, ngôn ngữ giàu hình ảnh, nhạc điệu thể hiện độc đáo. ——Tinh thần bi kịch: “Bi” là bi tráng, “Trương” là uy nghiêm. Tinh thần bi tráng là không trốn tránh khó khăn, hy sinh, mất mát. Những hi sinh, mất mát đó thường được thể hiện với giọng hào sảng, giọng điệu hào hùng, hình ảnh hào hùng. Bi kịch buồn nhưng không ủy mị, không nhu nhược mà dũng cảm và kiêu hãnh.

Cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng trong bài thơ “Dĩ Thiên”.

Nét độc đáo của “Tây Thiên” nằm ở sự kết hợp, hòa quyện giữa cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng, tạo nên một hình tượng nghệ thuật trường tồn mãi với thời gian.

– Cảm hứng lãng mạn:

+ “Tôi” giàu cảm xúc, tưởng tượng. “Tôi” Guangyong đã đi đến cuối cùng và dành cả cuộc đời của mình với quân đội Xitian. Một cái “tôi” nhạy cảm, dễ rung động trước vẻ đẹp của thiên nhiên; rất nhạy cảm với chất lãng mạn, mơ mộng của những chàng trai Tây Tiến, niềm vui tinh thần của họ trên con đường gian nan phía trước…   Với cái “tôi” giàu cảm xúc, Quảng Đông dẫn dắt người đọc hòa vào cảm xúc và hoài niệm. Kỉ niệm ùa về, kí ức vẫn hằn sâu không bao giờ phai.

+ Cảm hứng lãng mạn còn được thể hiện qua cảm nhận về vẻ đẹp của núi rừng miền Tây; tâm hồn lạc quan, tự tại và nghệ sĩ của những chiến binh miền Tây.

+ Cảm hứng lãng mạn thể hiện qua các yếu tố nghệ thuật tiêu biểu: bút pháp tương phản, đối lập. Hệ thống ngôn ngữ giàu sức tạo hình và biểu cảm. Các phẩm chất của hội họa, âm nhạc và thơ ca kết hợp với nhau rất tinh tế.

– Tinh thần bi tráng:

+ Thể hiện tinh thần bi tráng qua chân dung người lính ốm nhưng không yếu, khổ nhưng không mệt.

+ Cái chết đối với ngài chỉ là sự lãng quên; sự hy sinh của ngài thật sang trọng và thánh thiện, và cái chết đó đã trở thành bất tử.

* đánh giá:

+ Sự kết hợp giữa cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng tạo nên vẻ đẹp độc đáo của “Tây Thiên”. Cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng đều bắt nguồn từ chữ “tôi” tao nhã ở Quảng Đông. Đây cũng là một đặc điểm của văn học 1945-1975.

Tư liệu liên quan đến bài thơ “Lời ấy” của Du Dụ:

– giống hệt nhau:

Cảm hứng lãng mạn trong hai bài thơ, cái tôi cảm xúc, sự theo đuổi lý trí của con người, theo đuổi lý tưởng cao đẹp của thời đại; vẻ đẹp lãng mạn trong tâm hồn con người.

– Sự khác biệt:

+ Cảm hứng lãng mạn trong “Tây Tiến” gắn liền với tinh thần bi tráng. Quang Dũng đã trải qua những cuộc chiến và gian khổ với đội quân Xitian. Chứng kiến ​​những hy sinh, mất mát của đồng đội. Bởi vậy, những vần thơ tràn đầy cảm hứng lãng mạn vẫn đượm buồn đau nhưng không u uất, yếu đuối, đa cảm.

+ Cảm hứng lãng mạn trong sáng trong “Lời ấy” xuất phát từ niềm hân hoan, hân hoan của một trái tim trẻ khi lần đầu tiên gặp được ánh sáng lý tưởng của đảng.

– Giải thích sự khác biệt: Vì hoàn cảnh ra đời và đặc điểm trong lối viết của tác giả.

3. Kết thúc:

Khẳng định: không chỉ “Lời ấy”, “Thiên đường phía Tây”, các tác phẩm văn học từ 1945 đến 1975 đều ra đời trong bối cảnh chiến tranh dân tộc, thường mang đậm khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn.

Tham Khảo Thêm:  Suy nghĩ về cách xưng hô tôi và ta trong bài thơ Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải

Related Posts

Nghị luận: Cái mất đáng tiếc là thời gian. Cái mất đáng lo là cơ hội. Cái mất đáng buồn là niềm tin. Cái mất đáng sợ là tình người

Mất mát đáng tiếc là thời gian. Lo lắng mất mát là cơ hội. Một mất mát đáng buồn là niềm tin. Mất mát ghê gớm là…

Vẻ đẹp phong cách nhà Nho trong Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ và Bài ca ngắn đi trên bãi cát của Cao Bá Quát.

Vẻ đẹp phong cách nhà Nho trong Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ và Bài ca ngắn đi trên bãi cát của Cao Bá Quát….

Những lỗi thường bị trừ điểm trong bài làm văn của học sinh.

Những lỗi thường bị trừ điểm trong bài làm văn của học sinh. I. Những lỗi thường gặp trong bài làm văn của học sinh. 1. Lỗi…

Những lưu ý khi tiến hành làm bài văn nghị luận.

Những lưu ý khi viết luận văn. 1. Trước khi lên lớp học sinh phải phân tích đề. – Chỉ định định dạng tiêu đề. – Xác…

Cách làm bài văn nghị luận văn học không bị lạc đề.

Cách làm bài văn nghị luận văn học không bị lạc đề. A. Mở đầu. Trong khi làm bài văn nghị luận về tác phẩm văn học,…

Nghị luận: Thơ ca là cái đẹp đi tìm

tranh luận: thơ là vẻ đẹp được tìm kiếm. Một chuyên gia thẩm mỹ cho biết: Tất cả các thể chế chính trị đều qua đi, chỉ…

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *