Hướng dẫn cách làm bài nghị luận về một đạo lí, tư tưởng lớp 9.

the-quyen-ve-hinh-anh-tho-tu-1932-den-het-the-ki-xx

Hướng dẫn cách viết bài văn nghị luận về tư tưởng, đạo đức.

1. Khái niệm:

Tranh chấp về tư tưởng và đạo đức Đó là câu hỏi thuộc lĩnh vực tư tưởng, đạo đức, quan điểm nhân văn (như nhận thức, tâm hồn và nhân cách, quan hệ gia đình và xã hội, ứng xử, lối sống…) của con người xã hội.

Đối với học sinh THPT, do có sự khác biệt về đặc điểm tâm lý, lứa tuổi, trình độ nhận thức nên vấn đề đưa ra để nghị luận không phải là những vấn đề quá phức tạp, to tát mà là những vấn đề về đạo đức, luân lý, tư tưởng, tình cảm liên quan đến cuộc sống hàng ngày như gia đình, gia đình. tình cảm đất nước, bạn bè, tinh thần trách nhiệm, tinh thần học tập, v.v. Những câu hỏi này có thể được hỏi trực tiếp, nhưng thường được ngụ ý thông qua các câu trích dẫn, cách ngôn, tục ngữ, ca dao, tục ngữ của một nền văn hóa, nhà bác học, danh nhân nào đó…

hai. Các loại tư vấn tư tưởng và đạo đức phổ biến:

– hình thức lệnh (Thường có những câu mệnh lệnh bắt đầu bằng “let”: suy nghĩ, bình luận, giải thích, chứng minh, bộc lộ…). Đây là một vấn đề phổ biến.thường không có văn bản

– Dạng đề mở, không bắt buộc (Thường chỉ đưa ra những câu tục ngữ, những ý yêu cầu thí sinh phải suy nghĩ để làm sáng tỏ).

– Từ hai loại đề tài chung trên, có thể chia nhỏ ra các loại đề tài cụ thể sau:

1. Dạng đề Bàn về nhân sinh quan, lí tưởng sống, thái độ sống của con người.

Ở dạng câu hỏi này, câu hỏi được đưa ra thường là cách con người lựa chọn triết lý sống, cách sống, thái độ trước những khác biệt được xác định. Kết luận cuối cùng của bài viết nhằm khẳng định rằng lối sống, tư tưởng và thái độ sống đúng đắn, phù hợp và cao thượng có sức thôi thúc con người vươn lên.

Ví dụ:

– Thà chết trong bóng tối còn hơn sống trong bóng tối (sống phải tốt)

——Lý tưởng là ngọn đèn dẫn đường. Không có lý tưởng thì không có phương hướng kiên định, không có phương hướng thì không có cuộc sống (Lép Tôn-xtôi) (Sống có lý tưởng thì thành công)

– Tự hào là cần thiết, nhưng xấu hổ còn quan trọng hơn (Đề thi tuyển sinh đại học khối C năm 2011) (Sự xấu hổ nâng cao phẩm giá con người)

– Như một thứ axit vô hình, sự vô trách nhiệm của mỗi cá nhân có thể làm băng hoại cả xã hội (Đề thi tuyển sinh đại học khối C, 2010) (ủng hộ lối sống có trách nhiệm)

– Đừng cố nổi tiếng mà trước hết hãy sống có ích (Đề thi tuyển sinh đại học khối D năm 2011) (hãy có ích cho xã hội)

– Đạo đức giả là căn bệnh chết người luôn ẩn sau bộ mặt hào nhoáng (Đề thi Đại học khối D năm 2010) (Đạo đức giả)

– Một người đánh mất niềm tin vào chính mình thì chắc chắn sẽ đánh mất nhiều thứ quý giá khác (Đề thi Đại Học Khối D 2009) (Vai trò của sự tự tin)

2. Văn bản nghị luận về tư tưởng, đạo đức, bàn luận về khái niệm thiện và ác, thiện và ác, công và ác, vị tha và ích kỷ…

– Thấy một chút điều thiện cũng không làm, một chút điều ác cũng đừng làm.

3. Dạng đề Bàn về quan hệ xã hội, đồng bào, máu thịt, tình bạn, tình yêu…

——”Cây không nên chín sớm”
Ba cây hợp lại thành núi.

“Khi tất cả mọi người rời bỏ tôi, bạn là người đến với tôi.”

4. Các dạng đề xuất (phổ biến nhất) về tư tưởng, đạo đức về hành động hoặc hành động: chủ động-bị động, có ý thức-vô thức, biết chữ-vô học…

“Lời nói không mua được bằng tiền
Lựa lời cẩn thận để vừa lòng đối phương”

– Đầu cơ háo công, người chân chính háo công (Khối C thi đại học, 2012)

– Thờ thần tượng là một nét đẹp văn hóa, yêu thần tượng là một thảm họa (Kỳ thi đại học khối D, 2012)

5. Yêu cầu:

Yêu cầu đối với các bài luận tư tưởng và đạo đức

– Kết cấu: Gồm 3 phần: mở đầu, thân bài và kết luận.

– Yêu cầu về kĩ năng: viết được bài văn nghị luận xã hội, bố cục cô đọng, diễn đạt lưu loát,…

– Yêu cầu về nội dung: làm sáng tỏ những vấn đề tư tưởng, đạo đức, chỉ ra tính đúng (hay sai) của một ý kiến ​​nào đó bằng cách giải thích, chứng minh, so sánh, đối chiếu, phân tích… nhằm khẳng định quan điểm của tác giả. Nêu ý nghĩa, rút ​​ra bài học nhận thức…

6. Đại cương:

Lễ khai mạc: – Giới thiệu, trình bày ý kiến, đạo lý sẽ nghị luận.
Thân bài:

– tham số 1: giải thích rõ ràng nội dung tư tưởng đạo lý (bằng cách giải thích từ ngữ, khái niệm..),
– Giấy 2: phân tích những mặt đúng đắn của tư tưởng đạo lí (được dẫn chứng từ đời sống và văn học),
– Giấy 3: Bác bỏ những luận điệu xuyên tạc liên quan đến tư tưởng đạo đức (được cuộc sống và văn học dẫn chứng).
– Luận điểm 4: Đánh giá ý nghĩa của tư tưởng đạo lí đang nói đến.
kết thúc: – Tính khái quát vẫn cần phải bàn.
– Nêu ý nghĩa và rút ra bài học nhận thức từ các tư tưởng đạo lí đã bàn

3. Sản xuất:

1. Bước 1: Tìm hiểu đề, tìm ý:

Đọc kỹ đoạn văn và trả lời các câu hỏi:

  • Loại chủ đề gì?
  • Những câu hỏi tư tưởng và đạo đức đã được đặt ra?
  • Tôi phải làm gì đây?
  • Lập luận bị thao túng?

Tìm kiếm ý tưởng: Phân tích trên quan điểm nào khẳng định (hoặc phủ nhận) tư tưởng đạo đức?

Việc nghiên cứu vấn đề giúp người viết xác định chính xác phạm vi của vấn đề và lập luận. Từ đó đề ra phương pháp thảo luận hiệu quả. Ở phần này, tác giả nên bình tĩnh tìm hiểu ẩn ý mà tác giả đặt ra, tránh nhận định chủ quan, vội vàng lạc đề, lan man.

2. Bước thứ hai: Lập dàn ý.

1. Giới thiệu:

– Giới thiệu vấn đề cần nghị luận.
– Luận điểm trạng thái: Trích nguyên văn hoặc khái quát nội dung trích dẫn (nếu có).
– Giới hạn nội dung và hành động thảo luận được thực hiện.

hai.Thân hình:

1. Mô tả:

Làm rõ khái niệm hoặc ý nghĩa của hệ tư tưởng cần nghị luận (nêu khía cạnh nội dung của hệ tư tưởng).

2. Thảo luận:

– Nêu cách vấn đề ứng xử trong cuộc sống thực (Vấn đề được biểu hiện như thế nào?).
– hướng phân tích, thảo luận, nhận thức và hành động (Điều này đúng hay sai, tích cực hay tiêu cực? Tại sao bạn thấy hoặc hành động theo cách này? ).
– Ghi nhận về nhận thức và hành động (Chúng ta phải làm gì để làm được điều này?).

3. Bày tỏ ý kiến, thái độ:

– Đồng tình, tán dương, khen ngợi (nếu là câu hỏi tích cực).
– Phê bình, phê phán, bác bỏ những suy nghĩ, hành động sai trái (nếu là điều tiêu cực).
– Nêu ý nghĩa, liên hệ thực tiễn, rút ​​ra bài học nhận thức và hành động.

3. Kết thúc: Tạo ý nghĩa của hành động khẳng định và thảo luận rộng rãi các vấn đề

* Ghi chú: Trong quá trình giải thích, phân tích, nghị luận vấn đề cần thông qua dẫn chứng miêu tả (ngắn gọn, tiêu biểu, dễ hiểu) để chứng minh, để các luận điểm có tính xác thực và thuyết phục hơn. Bài viết thường không quá dài. Vì vậy, phải có sự chọn lọc chính xác, tiêu biểu để tăng sức biểu cảm cho bài viết.

4. Dàn ý bàn về vấn đề tư tưởng, đạo đức (vấn đề tích cực)

– Giới thiệu chủ đề dự kiến ​​sẽ được thảo luận.
– Luận điểm trạng thái: Trích nguyên văn hoặc khái quát nội dung trích dẫn (nếu có).
– Giới hạn nội dung và hành động thảo luận được thực hiện.

Đầu tiên. giải thích tư tưởng, đạo lý và những phát biểu cần nghị luận (nêu những khía cạnh nội dung của tư tưởng, đạo lý này,…).

2. Phân tích, chứng minh, bình luận, phản bác, phê phán những sai lệch có liên quan:

– Nêu cách ứng xử của tư tưởng, đạo đức trong đời sống (vấn đề đó biểu hiện như thế nào?).
– Phân tích, lập luận, bàn luận, làm sáng tỏ các khía cạnh tư tưởng, đạo đức (đúng hay sai? có ý nghĩa gì đối với đời sống xã hội?)

3. Bày tỏ ý kiến, thái độ:

– Nhận diện vấn đề, định hướng nhận thức và hành động (tại sao phải nhận thức và hành động như vậy?).
– Khẳng định nhận thức và hành động đúng; đồng tình, đền đáp, đền đáp, kêu gọi học tập làm theo (làm gì để tuyên truyền rộng rãi?).
Phê phán, bác bỏ những nhận thức và hành động sai trái, lệch lạc.

4. Nêu ý nghĩa, liên hệ thực tế, từ đó rút ra bài học nhận thức và hành động cho bản thân.

Tóm tắt ý, nhấn mạnh một luận điểm đã nêu ở đầu bài để khép lại bài văn hoặc trích dẫn thơ, văn để mở rộng, gợi mở cho người đọc hiểu thêm về vấn đề đang nghị luận.

5. Dàn ý nghị luận về vấn đề tư tưởng, đạo đức (vấn đề tiêu cực)

– Giới thiệu chủ đề dự kiến ​​sẽ được thảo luận.
– Trình bày luận điểm: trích dẫn nguyên văn hoặc nội dung khái quát của nhận định (nếu có).
– Giới hạn nội dung và hành động thảo luận được thực hiện.

* giải thích Ý tưởng và cách trình bày sẽ được thảo luận (nêu các khía cạnh nội dung của ý tưởng).

* bàn luận:

– Trình bày ý tưởng và biểu diễn trong thực tế cuộc sống (vấn đề biểu hiện như thế nào?).
– Phân tích, lập luận, bàn luận làm sáng tỏ các khía cạnh của một ý kiến ​​(đúng hay sai? Tác động của nó đến đời sống xã hội như thế nào?).

* Bày tỏ ý kiến, thái độ:

– Phê phán, phản bác, phủ nhận vấn đề. Khẳng định nhận thức và hành động đúng (phải làm gì để hạn chế, khắc phục và loại bỏ vấn đề?).
——Ca ngợi, biểu dương những tấm gương tích cực, kêu gọi học tập noi theo.
– Phát biểu ý nghĩa, liên hệ thực tế, rút ​​ra bài học nhận thức và hành động cho bản thân.

Tóm tắt ý, nhấn mạnh một luận điểm đã nêu ở đầu bài để khép lại bài văn hoặc trích dẫn thơ, văn để mở rộng, gợi mở cho người đọc hiểu thêm về vấn đề đang nghị luận.

ghi chú: Những vấn đề tư tưởng đạo đức thường là lí tưởng sống, lối sống, hoạt động sống hay quan hệ sống giữa người với người. Thông thường những bài báo như vậy thảo luận về những vấn đề (hầu hết) có tác động tích cực đến đời sống con người, có chức năng bồi dưỡng, hỗ trợ, khuyến khích con người có nhận thức và hành động đúng đắn. Ngoài ra còn có loại lời khuyên về tư tưởng bất bình thường và lối sống sai lầm, mục đích là làm cho người ta thấy đúng sai để có hành động đúng đắn.

* Một số chủ đề thường gặp:

chủ đề một: Hãy làm rõ tuyên bố: “Bàn tay làm giàu tâm hồn”.
chủ đề 2: Dựa trên kinh nghiệm học tập của bản thân, hãy làm rõ quan điểm của bạn: “Chỉ có kẻ ngốc mới nghĩ mình tài giỏi.”
chủ đề 3: “Học không có nghĩa là ngừng học”. Xuất phát từ ý nghĩa mà Đác-uyn đã nêu, hãy nêu ý nghĩa của việc học.
Bài 4:Người qua đường là người thể hiện thói quen đầu tiên, sau đó là bạn bè thân thiết trong nhà, cuối cùng là chủ nhà khó tính..Hãy thảo luận về ý kiến ​​trên.
Chủ đề 5: “Cốt lõi của quá trình dạy học là giúp học sinh học tập một cách độc lập.” Hãy thảo luận về ý kiến ​​trên.
Bài 6: Lepton-toi nói: “Lý tưởng là ngọn đèn dẫn đường. Không có lý tưởng thì không có cách làm nhất quán.”.Belinsky nói: “Tuổi trẻ không có lý tưởng như buổi sáng không có mặt trời”.Hãy bày tỏ ý kiến ​​của mình.
Bài 7: “Một nhân viên kế toán tốt là một người bạn tốt”. Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn về sự hữu ích của cuốn sách này.
Bài 8: Có một câu nói cũ: “Ba người cùng đi, một người là giáo viên.” Hãy suy nghĩ về nhận xét.
Chủ đề 9: “Dối trá và lừa dối là hành động của những kẻ ngu ngốc mà không có sự trung thực.”
Bài 10: “Lời nói dối thường ngọt ngào. Sự thật thường khó nghe.” (Lão Tử). Hãy xem xét tuyên bố trên.

Tham Khảo Thêm:  Nghị luận: Phải chăng chỉ có những điều ngọt ngào mới làm nên yêu thương?

Related Posts

Nghị luận: Cái mất đáng tiếc là thời gian. Cái mất đáng lo là cơ hội. Cái mất đáng buồn là niềm tin. Cái mất đáng sợ là tình người

Mất mát đáng tiếc là thời gian. Lo lắng mất mát là cơ hội. Một mất mát đáng buồn là niềm tin. Mất mát ghê gớm là…

Vẻ đẹp phong cách nhà Nho trong Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ và Bài ca ngắn đi trên bãi cát của Cao Bá Quát.

Vẻ đẹp phong cách nhà Nho trong Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ và Bài ca ngắn đi trên bãi cát của Cao Bá Quát….

Những lỗi thường bị trừ điểm trong bài làm văn của học sinh.

Những lỗi thường bị trừ điểm trong bài làm văn của học sinh. I. Những lỗi thường gặp trong bài làm văn của học sinh. 1. Lỗi…

Những lưu ý khi tiến hành làm bài văn nghị luận.

Những lưu ý khi viết luận văn. 1. Trước khi lên lớp học sinh phải phân tích đề. – Chỉ định định dạng tiêu đề. – Xác…

Cách làm bài văn nghị luận văn học không bị lạc đề.

Cách làm bài văn nghị luận văn học không bị lạc đề. A. Mở đầu. Trong khi làm bài văn nghị luận về tác phẩm văn học,…

Nghị luận: Thơ ca là cái đẹp đi tìm

tranh luận: thơ là vẻ đẹp được tìm kiếm. Một chuyên gia thẩm mỹ cho biết: Tất cả các thể chế chính trị đều qua đi, chỉ…

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *