Kỹ năng viết bài nghị luận thuộc dạng lý luận văn học (dành cho học sinh giỏi)

Gyeongnam Việt Nam

Kĩ năng viết bài văn nghị luận theo dạng lí luận văn học (học sinh giỏi)

I. Xác định yêu cầu cần đạt.

– Tích lũy những kiến ​​thức nhất định về tác phẩm, tác giả, lí luận văn học… Những kiến ​​thức lí luận học sinh cần có là: đặc điểm, chức năng, thể loại, tác giả và quá trình sáng tạo, phong cách nghệ thuật, tiếp nhận văn học…

– Rèn luyện khả năng tư duy trừu tượng, hiểu khái quát các tư tưởng khoa học được đề cập trong bài viết, vì các vấn đề lý thuyết thường được các nhà văn, nhà nghiên cứu diễn đạt một cách trực quan, nhiều khi còn trừu tượng, không dễ để học sinh tiếp thu. hiểu.

Ví dụ:

– Trích dẫn bởi Bieliski “Tư tưởng như một hạt giống vô hình, được gieo vào tâm hồn người nghệ sĩ và từ mảnh đất màu mỡ ấy, nó sinh sôi, phát triển, mang một hình hài nhất định, kết thành một hình tượng đầy vẻ đẹp và sức sống, và cuối cùng hình thành nên một thế giới hoàn toàn độc đáo và luôn tồn tại. như một.” (hình thành tác phẩm văn học).

– Trích dẫn từ Wu Shinan “Thơ không phải lâu đài, mà là bóng lâu đài dưới nước” (Vẻ đẹp độc đáo của thơ, cách thơ phản ánh hiện thực)

– Cha Ran Wyeon:

“Không nên
Tôi đã nói về sự ngây thơ, truyền thống, thiên niên kỷ
Để cái bắt tay không còn tác dụng gì nữa. “

Một lần khác ông viết:

“Cuộc sống sinh ra muôn hình vạn trạng
Ngay cả đá quý cũng có nhiều đá quý
Không phải bầu trời cứ mãi trong xanh”

Tiếp thu tinh hoa của văn học truyền thống và không ngừng đổi mới, văn học luôn cần sự đa dạng.

– Rèn luyện khả năng phát biểu lại và vận dụng kiến ​​thức lý thuyết để giải quyết vấn đề.

– Có kỹ năng viết để trình bày lập luận rõ ràng và áp dụng kiến ​​thức về tác giả và cố gắng hiểu rõ quan điểm.

hai. phương pháp làm việc.

1. Phân tích chủ đề.

– Đọc kỹ nhan đề, gạch chân những từ ngữ chứa đựng nội dung của nhan đề, xem tác giả sử dụng hình ảnh nghệ thuật gì, rồi xếp vào phạm trù lí luận văn học do nhan đề đặt ra.

– Kế đến, bạn phải biết cách đẩy những từ ngữ, hình ảnh đó lên mức độ khái quát.

Ví dụ: Nói về thơ, Xuandie nói “Thơ hay, thân tâm tốt”Tố Hữu lại nghĩ “Thơ hay không nhìn câu chữ, chỉ nhìn tình người”. suy nghĩ của tôi?

– Những câu của Hoàng đế Xuân: từ ngữ và hình ảnh tập trung vào: hồn, xác, thơ, tình người; hình hay, hồn và xác, không thấy thơ, chỉ thấy tình người

+ Tâm hồn: cái ở bên trong, còn niêm kín (những cảm xúc, ý tưởng được nhà thơ thốt ra – nội dung bài thơ), tâm hồn được thể hiện qua thể xác.

+ Thân bài: Là biểu hiện bên ngoài của thơ (ngôn ngữ, nhịp điệu, hình ảnh… – thể thơ).

+ Thực chất câu nói nổi tiếng của Huyền Diệu: Bài thơ hay là bài thơ mà nội dung và hình thức phải đạt giá trị cao.

– Câu văn của Tố Hữu: Lưu ý hai chữ Thơ đầu câu là danh từ, chỉ thể thơ, thể thơ, khổ thơ thứ hai trong câu là tính từ, nói về vẻ đẹp nghệ thuật (hình thức) của thơ; tình cảm của con người là đề tài, chủ đề và tình cảm (nội dung). Theo thi pháp của Du Du, một bài thơ được coi là hay khi người đọc không thấy được dụng ý nghệ thuật của tác giả, mà chỉ có tính nhân văn và tình cảm tác động vào tâm trí người đọc. Tố Hữu coi trọng nội dung mà không xa rời nghệ thuật

– Nâng cao: Các khái niệm của họ không chỉ áp dụng cho thơ ca mà còn cho tất cả các tác phẩm nghệ thuật nói chung. Một tác phẩm tốt phải là “phát minh ra hình thức và khám phá nội dung”.

Vì vậy, phạm trù được đề xuất để giải thích khái niệm này là: mối quan hệ giữa nội dung và hình thức trong tác phẩm văn học.

Ví dụ 2: Pan Keping đã viết trong cuốn “Tiếng Hán và văn học Việt Nam” “Một mình ngồi ở một góc, tao nhã nhìn cảnh đẹp thiên hạ, nhìn một tờ giấy, nhìn thấy tất cả sự nhơ nhớp trên đời; sinh ra ngàn năm sau, dường như có thể đối mặt và nghe thấy lý lẽ của những người sinh ra từ ngàn năm trước, nhờ văn học.

+ Các từ cần chú ý: Jiao, Ya, Jing, World, Jianzhi, Mingyan, Opposite, Smell…

Luận ngữ thường thức: Tác dụng và chức năng to lớn của văn học đối với con người

Các phạm trù lí luận cần thiết: chức năng của văn học (nhận thức), đặc trưng của văn học (ngôn ngữ vô hình)

2. Xây dựng kỹ năng giải quyết vấn đề.

Trong bài văn nghị luận, đối với một đề nghị thuộc kiểu lí luận văn học, người viết phải sử dụng các thao tác: giải thích, chứng minh, bình luận. Giải thích nội dung thực sự của câu hỏi ở đây là gì? Lập luận là làm sáng tỏ vấn đề từ hai phương diện lý luận văn học và thực tiễn văn học. Phê bình là nhìn vấn đề dưới nhiều góc độ khác nhau, bàn luận đúng sai, tìm hiểu ý nghĩa lý luận văn học và đời sống văn học, nhà văn và việc họ phải làm, để người đọc trở thành nhà văn có chỗ đứng trong lòng họ. .

Một. giải thích:

– Diễn giải khái niệm: ngôn từ, hình ảnh của phát ngôn (nghĩa đen, đặc biệt là hàm ý được tác giả thể hiện qua ngôn từ, hình ảnh, bìa của phát ngôn trừu tượng.

– Giải thích nghĩa: thực chất của câu là gì? (Xem chương Hướng dẫn phân tích)

– Mở rộng về những nhận định tương tự của các tác giả khác…

b) Kiến nghị nhận xét, đánh giá, mở rộng:

– Tất nhiên, các câu hỏi suy luận đưa ra cho học sinh thường là đúng, học sinh ít khi có những ý kiến ​​thực sự mới mà thường khẳng định chân lý, sự thật của vấn đề và dựa trên sự hiểu biết. Thực tế văn học dựa trên những gì họ biết và biết, dựa trên lý thuyết văn học được giải thích rõ ràng và sau đó áp dụng để biện minh cho tuyên bố.

– Ví dụ từ văn bản trên (Ví dụ 1)

+ Cách hiểu của hai nhà thơ tưởng chừng trái ngược nhau nhưng lại hoàn toàn thống nhất với nhau, bởi họ có những điểm giống nhau ở quan niệm về thơ hay: thơ là một chỉnh thể nghệ thuật được hình thành bởi sự kết hợp giữa nội dung và hình thức nghệ thuật. Vì vậy, thơ hay phải đạt được trạng thái máu thịt, thể xác và tâm hồn.

Đây là một quan niệm đúng. Khái niệm này có cơ sở cả về lý luận và thực tiễn văn học:

Cơ sở triết học: cặp phạm trù nội dung và hình thức của mọi sự vật hiện tượng trong đời sống

Cơ sở lí luận văn học: Nội dung và hình thức tác phẩm văn học. Tác phẩm văn học là một hiện tượng xã hội, giá trị, nội dung và hình thức của nó luôn phải thống nhất chặt chẽ với nhau. Sự thống nhất giữa nội dung và hình thức tạo nên sức mạnh tư tưởng và nghệ thuật của toàn bộ tác phẩm văn học.

Thực tế văn học cho thấy, nếu chỉ chú ý đến nội dung thì thơ ca chỉ có thể có nội dung tư tưởng cao và chỉ có thể tồn tại nhất thời (Những bài thơ của phong trào Y Kinh Xuyue: Bài ca cách mạng,…). Ngược lại, nếu muốn tạo hình một thể đẹp đẽ bằng những khuôn sáo ồn ào thay vì chú ý đến tâm hồn, thì thơ chỉ làm người đọc sảng khoái trong một lúc nào đó, thay vì giữ mãi trong đáy lòng. như ngắm hoa. Nhiều bài thơ hay trong đời là những bài thơ hay, linh hồn và thể xác đều không nhìn thấy thơ, chỉ thấy tình cảm của con người: Hoàng Hạ Long, anh yêu em, ngôi làng này Wei Da…

c. Ý nghĩa tác động và mở rộng vấn đề:

– Đóng góp vào kho lí luận văn học phong phú.

– Bài học cho người viết và người nhận

Tham Khảo Thêm:  Suy nghĩ về cách xưng hô tôi và ta trong bài thơ Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải

Related Posts

Nghị luận: Cái mất đáng tiếc là thời gian. Cái mất đáng lo là cơ hội. Cái mất đáng buồn là niềm tin. Cái mất đáng sợ là tình người

Mất mát đáng tiếc là thời gian. Lo lắng mất mát là cơ hội. Một mất mát đáng buồn là niềm tin. Mất mát ghê gớm là…

Vẻ đẹp phong cách nhà Nho trong Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ và Bài ca ngắn đi trên bãi cát của Cao Bá Quát.

Vẻ đẹp phong cách nhà Nho trong Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ và Bài ca ngắn đi trên bãi cát của Cao Bá Quát….

Những lỗi thường bị trừ điểm trong bài làm văn của học sinh.

Những lỗi thường bị trừ điểm trong bài làm văn của học sinh. I. Những lỗi thường gặp trong bài làm văn của học sinh. 1. Lỗi…

Những lưu ý khi tiến hành làm bài văn nghị luận.

Những lưu ý khi viết luận văn. 1. Trước khi lên lớp học sinh phải phân tích đề. – Chỉ định định dạng tiêu đề. – Xác…

Cách làm bài văn nghị luận văn học không bị lạc đề.

Cách làm bài văn nghị luận văn học không bị lạc đề. A. Mở đầu. Trong khi làm bài văn nghị luận về tác phẩm văn học,…

Nghị luận: Thơ ca là cái đẹp đi tìm

tranh luận: thơ là vẻ đẹp được tìm kiếm. Một chuyên gia thẩm mỹ cho biết: Tất cả các thể chế chính trị đều qua đi, chỉ…

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *