Nghị luận: Mỗi nghệ sĩ có thể đến với văn chương và cuộc đời bằng con đường riêng của mình. Nhưng….tư duy nghệ thuật dù có đổi mới đến đâu đi nữa thì cũng không thể vượt ra ngoài các quy luật của chân thiện mĩ, quy luật nhân bản (Lã Nguyên – Về tác gia và tác phẩm, NXBGD)

nghĩ-luan-moi-nghe-si-co-the-den-voi-van-chuong-va-cuoc-doi-bang-con-duong-rieng-cua-minh-but-tu-chỉ-nghe-thuat- du-co-do

tranh luận: “Mỗi người nghệ sĩ có thể bước vào văn chương và cuộc sống theo cách riêng của mình. Nhưng… tư duy nghệ thuật dù đổi mới đến đâu cũng không thể vượt qua quy luật của chân, thiện mỹ, nhân văn”. (Lã Nguyên – Về Tác Giả và Tác Phẩm, Nxb)


* gợi ý bài tập về nhà:

1. Đặt vấn đề:

Mỗi nghệ sĩ có thể tiếp cận văn học và cuộc sống theo cách riêng của mình. Nhưng tư duy nghệ thuật dù đổi mới đến đâu cũng không thể vượt qua quy luật chân, thiện, mỹ, quy luật tự nhiên của con người. Một nhà văn thực thụ gánh trên vai sứ mệnh truyền cảm hứng cho dòng sông văn học và bơm vào biển người bao la.

hai. Giải quyết vấn đề.

1 Mô tả:

1. Mô tả:

– Con đường của chính mình: Chỉ ra những cách khác nhau mà một nghệ sĩ tham gia vào sáng tạo văn học và nghệ thuật.

– Cái chân, cái đẹp, quy luật nhân văn: là những giá trị văn học có khả năng nhân đạo hóa con người (nhận thức, giáo dục, thẩm mỹ…). Đây là bản chất nhân văn vĩnh cửu của văn học.

——Quan điểm khẳng định vai trò định hướng của bản thân trong khám phá, sáng tạo nhưng đích đến muôn thuở của văn chương vẫn là chân, mỹ, nhân.

2. Thảo luận:

– Mỗi nghệ sĩ đều có thể bước vào văn chương và đời sống theo cách riêng của mình vì:

+ Vì cuộc sống là đối tượng khám phá trong văn học nghệ thuật. Cuộc sống là nơi sinh ra văn học. Đứng trước hiện thực phong phú của cuộc sống, mỗi nghệ sĩ có cảm nhận, tư tưởng, cách lý giải khác nhau, lựa chọn đề tài khác nhau, xử lý đề tài khác nhau, đặt ra câu hỏi khác nhau. . Đây là con đường họ đã tạo ra cho chính họ. Điều đó cũng xuất phát từ yêu cầu của đặc điểm văn học nghệ thuật: lĩnh vực sáng tạo. Đó cũng là lương tâm, là trách nhiệm của mỗi nghệ sĩ. Nam Thảo quan niệm: “Văn không cần thợ giỏi…”.

+ Văn học được đặc trưng là lĩnh vực sáng tạo. Đứng trước hiện thực phong phú, mỗi nghệ sĩ có những cảm xúc, suy nghĩ, cách lý giải khác nhau, lựa chọn đề tài khác nhau, ứng xử khác nhau.

+ Chọn lối đi riêng tạo nên sự đa dạng, mới lạ trong sáng tạo nghệ thuật, khẳng định vị trí và phong cách của nhà văn.

——Tư duy nghệ thuật có đổi mới đến đâu cũng không thể vượt qua quy luật của chân, thiện mỹ và nhân sinh, bởi vì:

+ Cái chân, cái đẹp và con người là mục tiêu và trung tâm của mọi sáng tạo nghệ thuật. Nếu họ không rèn luyện con đường của riêng mình, tác phẩm của họ sẽ trở thành một bản sao, và nó sẽ chết, theo bước chân của những người đi trước.

+ Những nguyên lý chân, thiện mỹ, nhân văn có thể soi sáng cho người đọc ánh sáng lý tưởng, khơi dậy tình yêu cuộc sống, vun đắp sự đồng cảm, vun đắp và thanh lọc tâm hồn con người…, đến gần con người hơn.

Tham Khảo Thêm:  Vẻ đẹp tuổi trẻ Việt Nam thời kháng chiến chống Mỹ cứu nước qua nhân vật Phương Định (Những ngôi sao xa xôi) và anh thanh niên (Lặng lẽ Sa Pa)

Vai trò: Mở ra con đường riêng, nghệ sĩ tạo ra sự đa dạng trong sáng tạo nghệ thuật, khẳng định sức sống của mỗi tác phẩm, khẳng định vị trí, phong cách của nhà văn, lý do để nhà văn đứng vững. Tốt cho cuộc sống.

* Tư duy nghệ thuật… Quy luật của cái đẹp, cái đẹp, quy luật của bản chất con người:

——Đây là vấn đề đổi mới tư duy nghệ thuật—một vấn đề đặt ra như một nhu cầu bức thiết của nghệ thuật. Nhà văn luôn phải tự làm mới mình để góp phần đổi mới nghệ thuật. Đổi mới cái gì? Đề tài cách tân, đề tài cách tân, cảm hứng cách tân, phong cách cách tân… Điều quan trọng nhất là cập nhật tư duy, cách nhìn nhân sinh quan của người viết trong suốt cuộc đời.

——Nhưng mọi sự đổi mới sẽ không nằm ngoài quy luật của chân, thiện, mỹ. Chân, thiện, mỹ, nhân văn vẫn là đích đến của mọi khám phá, sáng tạo nghệ thuật. Quy luật của cái chân, cái đẹp và con người giống như cái mỏ neo, cái giới hạn mà bán kính sáng tạo của nhà văn dù hướng nào cũng không được vượt quá. Nói cách khác, nó cũng là tâm điểm của mọi khám phá nghệ thuật.

Văn học là nhu cầu của con người và là món ăn tinh thần không thể thiếu, bởi nó là lĩnh vực đáp ứng nhu cầu cuộc sống của con người. Văn học có nhiều chức năng (nhận thức, giáo dục, thẩm mỹ, dự đoán, giải trí…); có nhiều quan niệm cổ kim, nhưng giao thoa vẫn là chân – thiện – mỹ, những vấn đề nhân văn của cuộc sống. Chân, nói đến chức năng nhận thức của văn học, văn học phải chân thực. Cái hay nói đến chức năng giáo dục, cảm hóa của văn học. Thẩm mỹ là nói đến chức năng thẩm mỹ, chức năng cơ bản nhất là chất keo kết dính các chức năng khác lại với nhau. Khi chạm đến cái chân, cái đẹp, cái đẹp thì văn học đã chạm tới chiều sâu của bản chất con người, tiếp cận con người và làm người.

* Nhiệm vụ của nhà văn thực … biển người bao la:

——Đây là vấn đề của nhiều nhà văn. Lời nói có thể khác nhau, nhưng bản chất thì giống nhau. Đây là cái tâm của người cầm bút. Đến đây, diễn giả đặt vấn đề: “Dòng sông với cội nguồn chảy ra biển nhân văn bao la” – một ý kiến ​​độc đáo. Mọi dòng sông đều bao hàm và chảy ra biển cả, mọi khám phá sáng tạo đều hướng tới con người, con người và con người. Vì con người là trung tâm khám phá của văn học nghệ thuật. Văn học có thể viết về mọi vấn đề của đời sống, muôn hình vạn trạng của sự sáng tạo, nhưng mục đích của nó là nêu lên và giải thích những vấn đề của con người. Văn học chân chính phải là văn chương thế tục, nhà văn chân chính phải viết cho nhân dân, tác phẩm mới đạt tầm nhân dân.

Tham Khảo Thêm:  Đề bài đọc hiểu về chủ đề: Hi vọng

2. Chứng minh qua một số tác phẩm.

* Truyện Kiều – Nguyễn Du:

– Truyện Kiều bắt nguồn từ Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, nhưng bằng tài năng và sự sáng tạo của mình, Nguyễn Du đã khoác lên cốt truyện một diện mạo mới. Cả về hình thức và nội dung, đó là một sự thay đổi và đổi mới.

Tác phẩm “Hải ngoại sử ký” của Nguyễn Du khiến người ta biết:

+ Tràn đầy yêu thương, cảm thông cho số phận bất hạnh của Thúy Kiều, để cứu cha và gia đình, cô đã phải phản bội chính mình, lưu lạc nơi xứ người suốt 15 năm. Đồng thời ông cũng bày tỏ sự thương cảm cho số phận của những người phụ nữ sống dưới chế độ phong kiến.

+ Không chỉ vậy, tác phẩm còn khiến chúng ta cảm thấy căm thù, phẫn nộ trước chế độ phong kiến ​​đã tước đoạt dã man quyền sống, quyền sung sướng, quyền tự do của con người, v.v. Đẩy người đến đường cùng.

*Ánh trăng – Nguyễn Duy:

– Viết về trăng không có gì mới trong văn học, nhưng đến với Nguyễn Việt, ông đã tạo cho nó một hình thức mới:

+ Thể thơ năm chữ có nhịp điệu.

+ Đoạn thơ chỉ viết hoa chữ cái đầu mỗi khổ thơ, không dùng dấu câu ở cuối câu, chỉ đặt ở cuối khổ thơ. Với hình thức này, toàn bộ bài thơ tự nhiên và thể hiện quan điểm, tư tưởng của tác giả.

——Đồng thời, tác phẩm cũng là bài học về chân-thiện-mỹ cho người đọc: bài học về lòng trung nghĩa, tình nghĩa, là sự tiếp nối truyền thống “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc. Đừng quên tình yêu mà bạn đã từng có.

+ Khép lại bài thơ “Ánh trăng”, Nguyễn Việt Nam thể hiện rõ nét tính biểu tượng của hình ảnh vầng trăng để rồi từ đó tác giả đưa ra bài học triết lí, nhắc nhở thái độ sống của mỗi người.

“Trăng cứ tròn vành vạnh”
kể cho tôi nghe về anh chàng ngẫu nhiên đó
ánh trăng im lặng
Đủ để làm tôi sợ. “

+ Vầng trăng xưa vẫn trọn vẹn, nguyên vẹn và các từ “mãi mãi”, “dù thế nào” cũng thể hiện thái độ bao dung, độ lượng của vầng trăng nhưng điều đối lập rõ nét với hình ảnh vầng trăng chính là người, người đã thay đổi một cách tình cờ.

+ Trăng như một người bạn thầm lặng, nghiêm khắc dù rất bao dung không một lời trách móc.

+ Ở đây “Trăng” được thay bằng “Ánh trăng” để nhấn mạnh ánh sáng. Ánh sáng lương tâm của con người soi sáng những góc tối trong trái tim anh ta. Ánh sáng soi đường cho mọi người trở về với lòng trung thành và tình bạn.

+ Trước cái nhìn nghiêm khắc và bao dung của người bạn thủy chung và yêu thương, trước ánh sáng huyền diệu của ánh trăng, người ta phải “bàng hoàng”. Sợ hãi khi nhìn lại chính mình. Kinh ngạc hỏi lương tâm của chính mình, kiểm điểm bản thân, xem mấy tháng nay mình đã vô tình thiếu trung thực đến mức nào để đề cao bản thân. Đó là một bất ngờ rất quý giá và đáng được trân trọng.

Tham Khảo Thêm:  Nghị luận: Vị trí và vai trò của môn Ngữ văn trong thời đại ngày nay

Như vậy, qua câu thơ cuối, hình ảnh vầng trăng mang tính biểu tượng sâu sắc. Vầng trăng là vẻ đẹp vĩnh hằng của thiên nhiên, còn vầng trăng là tình đồng chí, đồng đội, lòng bao dung, nhân hậu của con người. Vầng trăng là quá khứ khó khăn, gian khổ nhưng nghĩa tình. Trăng là cội nguồn, là quê hương, đất nước. Từ hình ảnh vầng trăng, tác giả gợi cho người đọc bài học triết lý sâu sắc, đó là thái độ sống “uống nước nhớ nguồn” và ân nghĩa thủy chung.

* Làng Bến – Nguyễn Minh Châu.

– Làng là tác phẩm triết lí của nhà văn Nguyễn Minh Châu, tác phẩm đã thức tỉnh lối sống, cách ứng xử của hàng trăm triệu con người, hàng triệu trái tim:

Nhi đã cho chúng tôi thấy rằng ngôi nhà của chúng tôi là nơi gần gũi và ấm áp nhất đối với chúng tôi. Có những người vợ luôn tần tảo âm thầm hy sinh, có những đứa con chua ngoa nhưng vô cùng dễ thương… Đó chính là bến đỗ bình yên của cuộc đời ta muốn nâng niu.

+ Tác phẩm cũng cho ta thấy cuộc đời con người có nhiều uẩn khúc và chuyển tiếp, chúng ta cần cảnh giác để không sa vào những uẩn khúc đó. Bạn cũng có thể nhận ra giá trị đích thực của cuộc sống.

* Lặng lẽ Sabah – Nguyễn Thành Long

– Tác phẩm này là lời ca ngợi một chàng trai có nhiều phẩm chất cao đẹp đáng quý:

+ Quan điểm đúng đắn về hạnh phúc, với ông hạnh phúc là làm việc và phụng sự xã hội.

+ Anh thanh niên này là người trung thực, biết quan tâm đến mọi người. Anh ấy chăm sóc tốt cho người khác và rất khiêm tốn.

Có lý tưởng nghề nghiệp đúng đắn.

+ Xây dựng nếp sống ngăn nắp, khoa học, làm giàu kiến ​​thức, làm phong phú đời sống tinh thần.

– Hình ảnh các bạn trẻ còn dạy cho người đọc bài học về chân-thiện-mỹ. Tuổi trẻ hướng con người đến lối sống giản dị hòa mình vào thiên nhiên. Hướng dẫn chúng tôi nhìn nhận ngành và lực lượng lao động một cách chính xác và đóng góp cho đất nước. Người thanh niên này cũng giúp chúng ta nhận ra mình cần phải sống lương thiện, yêu thương mọi người, sống lương thiện và khiêm tốn,…

3. Tóm tắt vấn đề:

——Văn học khuyến khích văn nghệ sĩ cách tân, đổi mới nhưng nó đòi hỏi sự kết hợp hài hòa giữa truyền thống và hiện đại, dấu ấn riêng và giá trị chung.

– Người nghệ sĩ khi sáng tác đòi hỏi phải có tinh thần nhân đạo, phải có kinh nghiệm sâu sắc, đứng trên quan điểm hướng về con người.

Related Posts

Nghị luận: Cái mất đáng tiếc là thời gian. Cái mất đáng lo là cơ hội. Cái mất đáng buồn là niềm tin. Cái mất đáng sợ là tình người

Mất mát đáng tiếc là thời gian. Lo lắng mất mát là cơ hội. Một mất mát đáng buồn là niềm tin. Mất mát ghê gớm là…

Vẻ đẹp phong cách nhà Nho trong Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ và Bài ca ngắn đi trên bãi cát của Cao Bá Quát.

Vẻ đẹp phong cách nhà Nho trong Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ và Bài ca ngắn đi trên bãi cát của Cao Bá Quát….

Những lỗi thường bị trừ điểm trong bài làm văn của học sinh.

Những lỗi thường bị trừ điểm trong bài làm văn của học sinh. I. Những lỗi thường gặp trong bài làm văn của học sinh. 1. Lỗi…

Những lưu ý khi tiến hành làm bài văn nghị luận.

Những lưu ý khi viết luận văn. 1. Trước khi lên lớp học sinh phải phân tích đề. – Chỉ định định dạng tiêu đề. – Xác…

Cách làm bài văn nghị luận văn học không bị lạc đề.

Cách làm bài văn nghị luận văn học không bị lạc đề. A. Mở đầu. Trong khi làm bài văn nghị luận về tác phẩm văn học,…

Nghị luận: Thơ ca là cái đẹp đi tìm

tranh luận: thơ là vẻ đẹp được tìm kiếm. Một chuyên gia thẩm mỹ cho biết: Tất cả các thể chế chính trị đều qua đi, chỉ…

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *