Nghị luận: Nghệ thuật có thể chỉ là những tiếng đau khổ kia, thoát ra từ những kiếp lầm than (Giăng sáng – Nam Cao)

nghe-thuat-co-the-chi-la-nhung-tieng-dau-kho-kia-thoat-ra-tu-nhung-kiep-lam-than

“Nghệ thuật có thể là tiếng nói của nỗi đau thoát ra từ cuộc đời bất hạnh” (Giăng Sáng – Nam Cao)

Câu nói trên nói lên điều gì về mối quan hệ giữa nghệ thuật và hiện thực cuộc sống?Em hãy phân tích một số câu thơ tiêu biểu trong bài thơ này “Bác sĩ giấy” (Nguyễn Khuyến) và “Vịnh thơ” (Trần Tế Xương) để làm sáng tỏ nhận định trên.


gợi ý bài tập về nhà:

1. Giải trình ý kiến:

——Nghệ thuật: một hình thái ý thức xã hội đặc biệt phản ánh tồn tại xã hội, thể hiện quan điểm sống của con người. Văn học là hình thức nghệ thuật của ngôn từ.

—— “Tiếng Đắng”, “Đắng Đời”: Hiện thực cuộc sống xô bồ, thăng trầm, kiếp người đau khổ… Ở đây, “Tiếng Đắng” vừa từ trong cuộc sống, bi kịch của hiện thực vừa xuất hiện , và người nghệ sĩ vừa mở lòng Chấp nhận trái tim khi hiện thực vang vọng.

⇒ Bài phê bình của Nam Cao khám phá mối liên hệ sâu sắc giữa nghệ thuật và hiện thực: Nghệ thuật là bức tranh phản ánh hiện thực cuộc sống.

2. Ý kiến ​​thảo luận:

—— Nam Tào phán đoán là chính xác.

Văn học là tấm gương phản chiếu cuộc sống, hiện thực là nguồn chất liệu và nguồn cảm hứng vô tận cho các tác phẩm văn học. Không có tác phẩm nào không phản ánh cuộc sống, nên không nhà văn nào viết được mà không gắn liền với hiện thực cuộc sống.

——Cuộc sống là điểm xuất phát của văn học và cũng là đích đến của văn học, văn học tác động đến con người và cải tạo hiện thực cuộc sống. Nếu không đi sâu, khám phá bản chất của hiện thực, để mọi người hiểu được hiện thực mà chúng ta đang sống thì văn học sẽ không thể hoàn thành sứ mệnh của mình.

Hơn nữa, vai trò và sứ mệnh của một nhà văn rất cao cả, đó là người “cho máu”, người “nâng giấc ngủ cho người lữ thứ” (Nguyễn Minh Châu), chỉ có mở lòng đón nhận những đau thương, dư âm của cuộc đời. liệu tác phẩm có bén rễ trong lòng người đọc hay không.

– Đối với người đọc, họ coi văn học là con đường giúp họ hiểu cuộc đời, con người và qua đó hiểu chính mình. Nếu nghệ thuật nói chung, văn học nói riêng không phải là “tiếng kêu thảm thiết của kiếp người khốn khổ”, một cuốn sách giáo khoa đích thực về cuộc sống, thì chúng sẽ bị độc giả xa lánh và nhanh chóng bị lãng quên.

3. Dẫn chứng qua hai bài thơ “Tiến sĩ giấy” và “Vịnh khoa thi hương” của Nguyễn Khuyến:

——Có thể thấy, hai tác phẩm “Tiến sĩ giấy” và “Vịnh thơ hương” là “một tiếng nói khác của nỗi khổ, thoát khỏi kiếp lầm than. Cả hai tác phẩm đều miêu tả hiện thực loạn lạc của những kỳ thi đau thương, cho thấy hiện thực của sự sa sút của Hệ tư tưởng Nho giáo trong bối cảnh mất nước:

+ Bài thơ “Thầy thuốc giấy”: Nguyễn Côn đã dùng ngòi bút song quyền khắc họa hình tượng đồ chơi quen thuộc, phê phán những kẻ kiêu căng ngạo mạn, vô dụng, bất tài, đồng thời cũng tự cười nhạo, tự trách mình.

+ Bài thơ “Vịnh khoa thi Hương” phơi bày hiện thực nhố nhăng, loạn lạc của thi cử thời Pháp thuộc và sự suy tàn của Nho giáo. Nhà thơ Trần Tế Xương công kích thẳng vào đối tượng bị phê phán, chế giễu.

——Đằng sau hai khổ thơ, ta nhận thấy “những tiếng kêu đau khổ, thoát kiếp lầm than” ấy cũng được cất lên từ sâu thẳm trái tim tác giả trước thực tế đầy biến động của thời đại:

Bác sĩ Giấy: Bi kịch “người quá nhiều” luôn day dứt, ám ảnh cuộc đời nhà thơ. Nhà thơ tự cười mình và tự trách mình bất tài với đất nước.

+ Thơ vịnh: Đằng sau tiếng cười là nỗi đau hấp hối của Trần Đức Tường và nỗi tủi nhục mất nước trong cuộc đời ở Hắc Âm. Trong lúc sinh thời, ông đau buồn nhưng phải thốt lên: “Nếu con muốn mù, ông trời không để con mù.

4. Nhắc lại tính đúng đắn của nhận định:

—— Cùng sống trong một thời đại, cùng chọn tiếng cười làm phương thức thể hiện, nhưng đằng sau tiếng cười, cả hai nhà thơ đều gửi gắm nỗi đau của mình. Nói chung, đó là cảm giác trống rỗng mà tầng lớp Nho sĩ cảm thấy khi họ nhìn thấy hệ tư tưởng ngàn năm mà họ đang theo đuổi sụp đổ. Đây là nỗi đau và nỗi tủi hổ của một người dân mất nước.lol, nhận định ở đây là ý kiến ​​riêng của người trong cuộc, là thành quả của artist “Nỗi đau của trái đất đã làm cho anh ta” (Heinrich Bohr).

——Tuy nhiên, sự phản ánh hiện thực không bao giờ là sự bắt chước vô hồn mà luôn in dấu ấn chủ quan của người nghệ sĩ:

+ Cách lên giọng mạnh mẽ: Nguyễn Khuyến khai thác mâu thuẫn bên trong đối tượng, Trần Tế Xương khai thác mâu thuẫn bên ngoài.

+ Giọng điệu mỉa mai: Nguyễn Khuyến thâm trầm, sâu sắc; Trần Tế Xương mỉa mai, giễu cợt, cười “như gương vỡ”.

+ Đối tượng châm biếm: Nguyễn Khuyến dành cho tầng lớp quan lại thượng lưu, Trần Tế Xương dành cho tầng lớp nho sĩ thành thị.

+ Lý do khác biệt: tính cách, đời tư của mỗi tác giả

Tham Khảo Thêm:  Nhận xét về nghệ thuật miêu tả dòng sông Đà của Nguyễn Tuân trong Người lái đò sông Đà

Related Posts

Nghị luận: Cái mất đáng tiếc là thời gian. Cái mất đáng lo là cơ hội. Cái mất đáng buồn là niềm tin. Cái mất đáng sợ là tình người

Mất mát đáng tiếc là thời gian. Lo lắng mất mát là cơ hội. Một mất mát đáng buồn là niềm tin. Mất mát ghê gớm là…

Vẻ đẹp phong cách nhà Nho trong Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ và Bài ca ngắn đi trên bãi cát của Cao Bá Quát.

Vẻ đẹp phong cách nhà Nho trong Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ và Bài ca ngắn đi trên bãi cát của Cao Bá Quát….

Những lỗi thường bị trừ điểm trong bài làm văn của học sinh.

Những lỗi thường bị trừ điểm trong bài làm văn của học sinh. I. Những lỗi thường gặp trong bài làm văn của học sinh. 1. Lỗi…

Những lưu ý khi tiến hành làm bài văn nghị luận.

Những lưu ý khi viết luận văn. 1. Trước khi lên lớp học sinh phải phân tích đề. – Chỉ định định dạng tiêu đề. – Xác…

Cách làm bài văn nghị luận văn học không bị lạc đề.

Cách làm bài văn nghị luận văn học không bị lạc đề. A. Mở đầu. Trong khi làm bài văn nghị luận về tác phẩm văn học,…

Nghị luận: Thơ ca là cái đẹp đi tìm

tranh luận: thơ là vẻ đẹp được tìm kiếm. Một chuyên gia thẩm mỹ cho biết: Tất cả các thể chế chính trị đều qua đi, chỉ…

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *