Ôn tập luyện thi văn bản “Chị em Thúy Kiều” (trích “Truyện Kiều” của Nguyễn Du)

on-tap-luyen-thi-van-ban-chi-em-thuy-kieu-trich-truyen-kieu-cua-nguyen-du.png

Chị em Thúy Kiều
(trích “Truyện Kiều” của Nguyễn Du)

I. Tìm hiểu tác giả, tác phẩm:

1. Tác giả: Nguyễn Du

2. Tác phẩm:

a. Vị trí đoạn trích: Đoạn trích nằm ở phần mở đầu tác phẩm, giới thiệu gia cảnh của Kiều. Khi giới thiệu những người trong gia đình Kiều, tác giả tập trung tả tài sắc Thúy Vân và Thúy Kiều.

b. Bố cục: 4 phần.

– Bốn câu đầu: giới thiệu khái quát hai chị em Thúy Kiều.
– Bốn câu tiếp: gợi tả vẻ đẹp Thúy Vân.
– Mười hai câu tiếp: gợi tả vẻ đẹp Thúy Kiều
– Bốn câu cuối: khái quát chung về cuộc sống hai chị em Thúy Kiều.

c. Nội dung: Đoạn trích đã khắc họa rõ nét chân dung tuyệt mĩ của chị em Thúy Kiều, ca ngợi vẻ đẹp, tài năng và dự cảm về kiếp người tài hoa bạc mệnh của Thúy Kiều, đây là biểu hiện cho cảm hứng nhân văn của Nguyễn Du.

II. Đọc hiểu văn bản:

1. Vẻ đẹp chung của Thúy Vân và Thúy Kiều (4 câu thơ đầu):

Trước hết, Nguyễn Du giới thiệu chung về hai chị em trong gia đình. Lời giời thiệu cổ điển, trang trọng rằng họ là “tố nga”, đẹp và trong sáng:

“Đầu lòng hai ả tố nga
Thúy Kiều là chị em là Thúy Vân”.

Nguyễn Du cũng đã xác định vai vế giữa Thúy Kiều và Thúy Vân rất rõ ràng. Việc xác định như thế cũng khẳng định trách nhiệm và nghĩa vụ của mỗi người đối với gia đình. Bởi thế, sau này, khi gia đình gặp nạn, Thúy Kiều chấp nhận bán mình cứu cha và em, đó là trách nhiệm làm chị vậy.

Tiếp đến, tác giả miêu tả chung vẻ đẹp của hai chị em bằng bút pháp đậm chất lí tưởng hóa, tuyệt đối hóa (đẹp một cách hoàn thiện):

“Mai cốt cách tuyết tinh thần
Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười”.

Với bút pháp ước lệ tượng trưng, tác giả đã gợi tả vẻ đẹp duyên dáng, thanh tao, trong trắng của người thiếu nữ ở hai chị em Thúy Kiều: “Mai cốt cách, tuyết tinh thần”. Vóc dáng mảnh mai, tao nhã như thân mai; tâm hồn trắng trong như tuyết.  Đó là vẻ đẹp hài hòa đến độ hoàn mĩ cả hình thức lẫn tâm hồn, cả dung nhan lẫn đức hạnh.

Tuy mỗi người mang nét đẹp riêng khác nhau nhưng ai cũng tuyệt đẹp, không tì vết “mười phân vẹn mười”. Đây là cách nói tuyệt đối hóa, có phần lý tưởng của nhà thơ nhưng cũng cho thấy chị em Thúy Kiều là bậc tuyệt hế giai nhân, không ai sánh được.

Bốn câu thơ đầu là bức tranh nền để từ đó tác giả dẫn người đọc lần lượt chiêm ngưỡng sắc đẹp của từng người. nhà thơ cũng dành một sự trân trọng sâu sắc đối với hai thiếu nữ khi miêu tả bức chân dung của họ. Quả thực, đó là những vẻ đẹp hiếm có, hiếm gặp, là hai viên ngọc quý được bao bộc trong một thế giới “vô trùng” của nhà Vương ông.

2. Gợi tả vẻ đẹp đoan trang, thùy mị của Thúy Vân – bức chân dung của giai nhân cao sang, phúc hậu (4 câu thơ tiếp theo):

“Vân xem trang trọng khác vời,
Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang.
Hoa cười, ngọc thốt, đoan trang,
Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da”.

Câu thơ mở đầu: “Vân xem trang trọng khác vời” đã giới thiệu khái quát vẻ đẹp của Thúy Vân: một vẻ đẹp cao sang, quý phái, nhìn vào đã thấy phúc đức dư thừa. Bút pháp ước lệ tượng trưng, phép ẩn dụ, nhân hoá đặc tả “khuôn trăng”, “nét ngài”, “hoa cười ngọc thốt, “mây thua nước tóc tuyết nhường màu da”,

Vẻ đẹp của Thúy Vân là vẻ đẹp đầy đặn, phúc hậu; tính cách thì đoan trang, thùy mị: khuôn mặt đầy đặn, tươi sáng như trăng đêm rằm;lông mày sắc nét như mày ngài; miệng cười tươi thắm như hoa; giọng nói trong trẻo thốt ra từ hàm răng ngọc ngà là những lời đoan trang, thùy mị. Mái tóc của nàng đen mượt hơn mây, da trắng mịn màng hơn tuyết. Cách miêu tả  giúp người đọc hình dung rõ ràng vẻ đẹp hồn hậu, gần gũi, phúc hậu của thúy Vân. Đó là vẻ đẹp được kết tinh bởi nhân khí và trời đất trong một mối nhân duyên hài hòa.

Vân đẹp hơn những gì mỹ lệ của thiên nhiên – một vẻ đẹp tạo sự hòa hợp, êm đềm với xung quanh. Cũng là hương sắc của tạo hóa, báu vật của nhân gian. Cách gợi tả có ý nghĩa dự báo về một cuộc đời bình lặng, suôn sẻ.

3. Vẻ đẹp tuyệt sắc và tài năng vượt trội của Thúy Kiều (12 câu thơ tiếp theo):

* Một sắc đẹp trác việt, chưa từng có ở trên đời:

“Kiều càng sắc sảo mặn mà,
So bề tài sắc vẫn là phần hơn.
Làn thu thuỷ, nét xuân sơn,
Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh

Một hai nghiêng nước nghiêng thành,
Sắc đành đòi một, tài đành hoạ hai”.

Nguyễn Du đã miêu tả Thúy Vân trước để làm nổi bật Thúy Kiều theo thủ pháp nghệ thuật đòn bẩy. Tả kĩ, tả đẹp để Vân trở thành tuyệt thế giai nhân, để rồi trên cái nền ấy khẳng định Kiều còn hơn hẳn: “Kiều càng sắc sảo mặn mà”. Từ “càng” đứng trước hai từ láy liên tiếp “sắc sảo”, “mặn mà” có ý nghĩa tăng tiến, làm nổi bật vẻ đẹp của Kiều: “sắc sảo” về trí tuệ, “mặn mà” về tâm hồn. Cả sắc và tài đều vượt trội muôn phần so với Thúy Vân.

Tham Khảo Thêm:  Không gian và thời gian nghệ thuật trong ca dao dân ca

Bút pháp ước lệ tượng trưng, phép ẩn dụ: “Làn thu thủy nét xuân sơn” gợi đôi mắt trong sáng, long lanh như làn nước mùa thu; hàng lông mày thanh tú như dáng núi mùa xuân. Vẻ đẹp của Kiều hội tụ ở đôi mắt – cửa sổ tâm hồn thể hiện phần tinh anh của tâm hồn và trí tuệ. Cách miêu tả khoáng đạt, so sánh với những hình tượng to lớn và tràn đầy sức sống nhằm khẳng định sức sống mãnh liệt của sắc đẹp Thúy Kiều.

Vẻ đẹp của Kiều khiến cho “hoa” phải ghen ghét, “liễu” cũng hờn giận vì kém xinh, kém đẹp. Không những thế, sức mạnh của sắc đẹp ấy cũng có thể khiến nước phải nghiêng, thành phải đổ. Thi nhân không tả trực tiếp vẻ đẹp mà tả sự đố kị, ghen ghét với vẻ đẹp ấy; tả sự ngưỡng mộ, mê say trước vẻ đẹp ấy. “Nghiêng nước nghiêng thành” là cách nói sáng tạo điển cố để cực tả vẻ đẹp giai nhân. Rõ ràng, cái đẹp của Kiều có chiều sâu, có sức quyến rũ làm mê mẩn và hoàn toàn thuyết phục lòng người. Đấng nam nhi đứng trước vẻ đẹp ấy khó mà không siêu lòng.

* Một trí tuệ hiếm có và tài năng phi thường:

“Thông minh vốn sẵn tính trời,
Pha nghề thi hoạ đủ mùi ca ngâm.
Cung, thương làu bậc ngũ âm,
Nghề riêng ăn đứt Hồ cầm một trương.
Khúc nhà tay lựa nên chương,
Một thiên “Bạc mệnh” lại càng não nhân”.

Trí tuệ thông minh tuyệt đối. Kiều là người con gái đa tài mà tài nào cũng đạt đến độ hoàn thiện, xuất chúng: đủ cả cầm, kì, thi, họa. Trí tuệ thông minh trời phú càng làm tôn lên vẻ đẹp hình thức của nàng. Không những thế, Kiều còn là người con gái đa tài mà tài nào cũng đạt đến độ hoàn thiện, xuất chúng: đủ cả cầm, kì, thi, họa.

Đặc biệt, tài đàn của nàng vượt trội hơn cả. Nhạc lí, nhạc tính, nhạc cụ nào nào cũng thông thạo, vừa giỏi âm luật vừa rành rỏi kỹ năng. Nàng còn đã soạn riêng một “Khúc bạc mệnh” mà ai nghe cũng não lòng. Khúc nhạc thể hiện tâm hồn, tài năng, trái tim đa sầu đa cảm.

Quả thực, ở Thúy kiều “tinh anh phát tiết ra ngoài” đến cực điểm. Đó là một con người toàn bích, chỉ có thể có trong trí tưởng tượng mà thôi. Bởi thế, chân dung Thúy Kiều mang tính cách số phận. Ngòi bút Nguyễn Du nhuốm màu định mệnh. Sắc đẹp và tài năng của Kiều nổi trội quá mà thiên nhiên, tạo hóa thì:

“Lạ gì bỉ sắc tư phong
Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen”

Cách gợi tả tinh tế ngầm dự báo cuộc đời của nàng sẽ gặp nhiều gian truân, đau khổ. Quả thực, sau này, Thúy Kiều rơi vào nghịch cảnh trầm luân dâu bể, đớn đau và khổ nhục không sao kể xiết. Điều đó ngầm sự báo cuộc đời của nàng sẽ gặp nhiều éo le, khổ đau, trầm luân dâu bể. Ngợi ca vẻ đẹp của chị em Thúy Kiều, Nguyễn Du đã trân trọng, đề cao giá trị, phẩm giá của con người như nhan sắc, tài hoa, phẩm hạnh;qua đó, dự cảm về kiếp người tài hoa bạc mệnh. Sự ngưỡng mộ, ngợi ca người phụ nữ trong xã hội “trọng nam khinh nữ” chính là biểu hiện sâu sắc của cảm hứng nhân văn trong ngòi bút Nguyễn Du.

4. Cuộc sống êm đềm của hai chị em Thúy Kiều (4 câu thơ cuối)

Thúy Vân, Thúy Kiều dưới ngòi bút của Nguyễn Du không chỉ nhan sắc tuyệt vời mà còn đức hạnh, lễ nghi và khuôn phép. Hai nàng được giáo dục trong một gia đình chuẩn mực, lấy đức làm trọng, giữ gìn nhân cách cao quý, lánh xa cuộc sống xô bồ. Bởi thế, dù đã đến tuổi “cài trâm, búi tóc” nhưng hai chị em vẫn giữ gìn nề nếp, gia phong:

Êm đềm trướng rủ màn che,
Tường đông ong bướm đi về mặc ai.

5. Cảm hứng nhân văn của Nguyễn Du qua đoạn trích:

Ngợi ca vẻ đẹp của chị em Thúy Kiều, Nguyễn Du đã trân trọng, đề cao giá trị, phẩm giá của con người như nhan sắc, tài hoa, phẩm hạnh; qua đó, dự cảm về kiếp người tài hoa bạc mệnh. Sự ngưỡng mộ, ngợi ca người phụ nữ trong xã hội “trọng nam khinh nữ” chính là biểu hiện sâu sắc của cảm hứng nhân văn trong ngòi bút Nguyễn Du.

6. Nhận xét về kết cấu của đoạn trích và dụng ý nghệ thuật của nhà thơ khi miêu tả hai pho tuyệt sắc:

Kết cấu của đoạn trích cho thấy trình tự miêu tả nhân vật của tác giả. Bốn câu đầu khái quát được vẻ đẹp chung ( mai cốt cách, tuyết tinh thần, mười phân vẹn mười ) và vẻ đẹp riêng (mỗi người một vẻ ) của từng người. Sau đó, tác giả mới đi sâu gợi tả vẻ đẹp của từng nhân vật. Bốn tiếp khắc họa rõ hơn vẻ đẹp của Thúy Vân, từ khuôn mặt, đôi mày, mái tóc, làn da, nụ cười, giọng nói, đều nhằm thể hiện vẻ đẹp đầy đặn, phúc hậu mà quý phái của người thiếu nữ.

Bức chân dung Thúy Vân được gợi tả trước, có tác dụng làm nền để nổi bật lên vẻ đẹp của bức chân dung Thúy Kiều trong mười hai câu thơ tiếp theo. Mười hai câu thơ tiếp khắc họa vẻ đẹp Thúy Kiều với cả sắc, tài, tình. Kiều là một tuyệt thế giai nhân “nghiêng nước nghiêng thành”. Kiều “sắc sảo” về trí tuệ và “mặn mà” về tâm hồn. Vẻ đẹp ấy thể hiện tập trung ở đôi mắt: “Làn thu thủy nét xuân sơn”. Tài năng của Kiều đạt tới mức lí tưởng, gồm cả cầm (đàn), kì (cờ), thi (thơ), họa (vẽ).

Tham Khảo Thêm:  Đề bài: Đọc - hiểu về chủ để ý nghĩa của lao động chân chính

Bốn câu cuối khái quát cuộc sống phong lưu, nền nếp, đức hạnh, trẻ trung của hai chị em Thúy Kiều. Đây là một kết cấu vừa chặt chẽ, hợp lí, vừa góp phần làm nổi bật vẻ đẹp chung và nhất là vẻ đẹp riêng của hai chị em Thúy Kiều.

III. Tổng kết:

1. Giá trị nội dung:

Đoạn trích đã khắc họa rõ nét chân dung tuyệt mĩ của chị em Thúy Kiều, ca ngợi vẻ đẹp, tài năng và dự cảm về kiếp người tài hoa bạc mệnh của Thúy Kiều, đây là biểu hiện cho cảm hứng nhân văn của Nguyễn Du

2. Giá trị nghệ thuật:

Nghệ thuật nổi bật của đoạn trích là nghệ thuật khắc họa nhân vật lí tưởng bằng bút pháp ước lệ tượng trưng – lấy vẻ đẹp của thiên nhiên làm nổi bật vẻ đẹp của con người, không miêu tả chi tiết cụ thể mà tả để gợi, sử dụng biện pháp đòn bẩy làm nổi bật vẻ đẹp của Thúy Kiều.


Câu hỏi ôn tập

Câu 1: Nhận xét về kết cấu của đoạn trích:

– Bốn câu đầu khái quát được vẻ đẹp chung ( mai cốt cách, tuyết tinh thần, mười phân vẹn mười ) và vẻ đẹp riêng ( mỗi người một vẻ ) của từng người. Sau đó, tác giả mới đi sâu gợi tả vẻ đẹp của từng nhân vật.

– Bốn tiếp khắc họa rõ hơn vẻ đẹp của Thúy Vân, từ khuôn mặt, đôi mày, mái tóc, làn da, nụ cười, giọng nói, đều nhằm thể hiện vẻ đẹp đầy đặn, phúc hậu mà quý phái của người thiếu nữ.

– Bức chân dung Thúy Vân được gợi tả trước, có tác dụng làm nền để nổi bật lên vẻ đẹp của bức chân dung Thúy Kiều trong mười hai câu thơ tiếp theo.

– Mười hai câu thơ tiếp khắc họa vẻ đẹp Thúy Kiều với cả sắc, tài, tình. Kiều là một tuyệt thế giai nhân “nghiêng nước nghiêng thành”. Kiều “sắc sảo” về trí tuệ và “mặn mà” về tâm hồn. Vẻ đẹp ấy thể hiện tập trung ở đôi mắt: “Làn thu thủy nét xuân sơn”. Tài năng của Kiều đạt tới mức lí tưởng, gồm cả cầm (đàn), kì (cờ), thi (thơ), họa (vẽ).

– Bốn câu cuối khái quát cuộc sống phong lưu, nền nếp, đức hạnh, trẻ trung của hai chị em Thúy Kiều.

 Một kết cấu như trên vừa chặt chẽ, hợp lí, vừa góp phần làm nổi bật vẻ đẹp chung và nhất là vẻ đẹp riêng của hai chị em Thúy Kiều.

Câu 2: Nhận xét nghệ thuạt miêu tả vẻ đẹp Thúy Vân, Thúy Kiều.

– Bốn câu thơ đầu: giới thiệu khái quát hai chị em Thúy Kiều.

+ Chỉ với hai câu thơ lục bát ngắn ngủi, tác giả đã giới thiệu được hai nhân vật và vị trí của hai người một cách đầy tự nhiên: “Đầu lòng hai ả tố nga / Thúy Kiều là chị em là Thúy Vân”.

+ “Mai cốt cách tuyết tinh thần”: bút pháp ước lệ gợi vẻ thanh cao duyên dáng, trong trắng của hai chị em thiếu nữ, đó là cốt cách như mai, tinh thần như tuyết.

+ “Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười”: Mỗi người mang nét riêng nhưng cả hai đều tài đều sắc

– Bốn câu tiếp theo: gợi tả vẻ đẹp Thúy Vân:

+ Câu thơ mở đầu khái quát vẻ đẹp của Thúy Vân, “trang trọng” gợi vẻ cao sang, quý phái

+ Vẻ đẹp của Thúy Vân được so sánh với những thứ đẹp nhất trên đời: trăng, hoa, mây, tuyết, ngọc

+ Chân dung Thúy Vân được miêu tả toàn vẹn từ mái tóc đến nụ cười, giọng nói, phong thái ứng xử nghiêm trang: khuôn mặt đầy đặn, phúc hậu, lông mày sắc nét như ngài, miệng tươi như hoa, đoạn trang như ngọc,…

+ Chân dung dự đoán số phận: “mây thua”, “tuyết nhường” ⇒ số phận êm đềm

– 12 câu tiếp: Gợi tả vẻ đẹp tài sắc vẹn toàn của Thúy Kiều:

+ “Kiều càng sắc sảo mặn mà”: khái quát đặc điểm của nhân vật

+ Tác giả sử dụng những hình ảnh ước lệ “thu thủy”, “xuân sơn” : gợi đôi mắt đẹp trong sáng, long lanh, linh hoạt như nước mùa thu , lông mày thanh tú như nét núi mùa xuân ⇒ phẩm chất tinh anh của tâm hồn, trí tuệ

 

+ “Hoa ghen… kém xanh”: Vẻ đẹp khiến thiên nhiên nổi giận ⇒ dự báo cuộc đời lắm truân chuyên
+ Không chỉ tả nhan sắc, Nguyễn Du còn nhấn mạnh vào sự tài năng của Thúy Kiều “Sắc đành đòi một tài đành họa hai”: Kiều thông minh và đa tài

+ Tài năng của đạt đến mức lí tưởng theo quan niệm thẩm mĩ phong kiến: hội tụ đủ cầm kì thi họa “pha nghề thi họa đủ mùi ca ngâm”

+ “Cung thương làu bậc…một trương”: Tác giả nhấn mạnh tài đàn của Kiều

+ “Một thiên bạc mệnh lại càng não nhân”: Kiều còn giỏi sáng tác, khúc bạc mệnh của Kiều phải chăng là tiếng lòng của một trái tim đa sầu đa cảm

Thúy Kiều là một nhân vật hiện lên với sự toàn bích.

Câu 3: Những hình tượng nghệ thuật nào mang tính ước lệ khi gợi tả vẻ đẹp của Thúy Vân? Qua những hình tượng ấy, em cảm nhận Thúy Vân có nét riêng về nhan sắc và tính cách như thế nào?

– Nét riêng về nhan sắc và tính cách của Thuý Vân được gợi tả bằng các hình ảnh ước lệ (trăng, cười, ngọc, mây, tuyết) trong bốn câu thơ:

Tham Khảo Thêm:  Phân tích tài năng miêu tả tâm lí bậc thầy của Nguyễn Du qua đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích

Vân xem trang trọng khác vời,
Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang.
Hoa cười, ngọc thốt, đoan trang,
Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da.

Vẻ đẹp của Thuý Vân được gợi tả là vẻ đẹp sang trọng, quý phái, đầy đặn, nở nang… về nhan sắc; đoan trang, trung thực, phúc hậu… về tính cách. Hình ảnh chân dung, tính cách còn có tác dụng gợi tả số phận: cuộc đời bình lặng, yên ổn.

Câu 4: Khi gợi tả nhan sắc Thúy Kiều, tác giả đã sử dụng hình tượng nghệ thuật mang tính ước lệ, theo em, có những điểm nào giống và khác Thúy Vân?

* Điểm giống:

– Gợi tả vẻ đẹp của Kiều, tác giả cũng dùng những hình tượng nghệ thuật ước lệ: thu thủy, xuân sơn.

– Chân dung Thúy Kiều cũng là chân dung mang tính cách, số phận: vẻ đẹp của Kiều làm cho tạo hóa phải ghét ghen, đố kị -> dự cảm một số phận éo le, đau khổ, truân chuyên.

* Điểm khác:

– Nguyễn Du đã sử dụng thủ pháp nghệ thuật đòn bẩy, miêu tả Thúy Vân trước để làm nổi bật chân dung Thúy Kiều.

– Nguyễn Du chỉ dành bốn câu thơ để gợi tả Vân, trong khi đó dành tới mười hai câu thơ để cực tả vẻ đẹp của Kiều.

– Vẻ đẹp của Vân chủ yếu là ngoại hình, còn vẻ đẹp của Kiều là cả nhan sắc, tài năng, tâm hồn.

Câu 4: Bên cạnh vẻ đẹp về hình thức, tác giả còn nhấn mạnh những vẻ đẹp nào ở Thúy Kiều? Những vẻ đẹp ấy cho thấy Thúy Kiều là người như thế nào?

– Bên cạnh vẻ đẹp hình thức, nhan sắc, tác giả còn nhấn mạnh vẻ đẹp tài năng, tâm hồn của Kiều. Ở Kiều hội tụ đầy đủ mọi tài năng theo quan niệm của tư tưởng phong kiến: cầm – kì – thi – hoạ.

– Trong đó, tác giả đặc biệt nhấn mạnh tài đánh đàn của Kiều (Nghề riêng ăn đứt Hồ cầm một trương) và gợi tả về tính cách đa sầu, đa cảm của Kiều qua khúc nhạc nàng tự sáng tác một thiên “bạc mệnh”.

– Cũng như khi miêu tả Thuý Vân, những nét riêng về tài và sắc của Thuý Kiều còn gợi ra những dự cảm về số phận, chỉ khác là những nét riêng về tài sắc của Kiều lại gợi ra cái nghiệt ngã, éo le của số phận (theo quan niệm “tài mệnh tương đố” của tư tưởng trung đại). Cho nên, nói: Sắc đẹp của Thuý Vân “Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da”, còn sắc đẹp của Thuý Kiều “Hoa ghen đua thắm, liễu hờn kém xanh” là sự dự báo số phận của hai người là có cơ sở.

Câu 5 : Người ta thường nói: sắc đẹp của Thúy Vân “mây thua nước tóc tuyết nhường màu da”, còn sắc đẹp của Thúy Kiều “hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh” là dự báo số phận hai người. Theo em có đúng không? Vì sao?

– Với ngôn từ miêu tả Thúy Vân cho thấy vẻ đẹp hiền lành, phúc hậu nàng sẽ có cuộc đời bình yên, suôn sẻ. Khi tả nàng Nguyễn Du rất tinh tế khi dùng chữ “nhường” “thua” trước vẻ đẹp của làn da, mái tóc.

– Còn với Thúy Kiều, ngôn ngữ ông miêu tả “sắc sảo mặn mà”, với sắc đẹp đó hoa phải “ghen”, liễu phải “hờn”, vẻ đẹp của nàng còn hơn cả thiên nhiên tạo vật. Bởi vậy dự báo cuộc sống đầy trắc trở, số phận éo le, bất hạnh

Câu 6: Trong hai bức chân dung Thúy Kiều và Thúy Vân, em thấy bức chân dung nào nổi bật hơn, vì sao?

Trong hai bức chân dung Thuý Vân và Thuý Kiều, bức chân dung Thuý Kiều nổi bật hơn. Điều này phù hợp với dụng ý nghệ thuật của tác giả khi sáng tạo Truyện Kiều: toàn bộ tác phẩm tập trung xoay quanh câu chuyện về cuộc đời đầy đau khổ của nàng Kiều. Điều này thể hiện ngay ở sự chênh lệch về số lượng câu thơ dành cho việc miêu tả hai nhân vật (4/12). Vẻ đẹp của Thuý Vân được gợi tả về nhan sắc, tính tình còn vẻ đẹp của Thuý Kiều được gợi tả cả về nhan sắc, tài trí, và tâm hồn. Mặc dù Thuý Vân là em nhưng lại được tả trước là vì tác giả muốn tạo ra một phông nền làm nổi bật chân dung của Kiều.

Cảm nhận đoạn trích Chị em Thúy Kiều (trích Truyện Kiều của Nguyễn Du)

Chủ đề liên quan:

Related Posts

Nghị luận: Cái mất đáng tiếc là thời gian. Cái mất đáng lo là cơ hội. Cái mất đáng buồn là niềm tin. Cái mất đáng sợ là tình người

Mất mát đáng tiếc là thời gian. Lo lắng mất mát là cơ hội. Một mất mát đáng buồn là niềm tin. Mất mát ghê gớm là…

Vẻ đẹp phong cách nhà Nho trong Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ và Bài ca ngắn đi trên bãi cát của Cao Bá Quát.

Vẻ đẹp phong cách nhà Nho trong Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ và Bài ca ngắn đi trên bãi cát của Cao Bá Quát….

Những lỗi thường bị trừ điểm trong bài làm văn của học sinh.

Những lỗi thường bị trừ điểm trong bài làm văn của học sinh. I. Những lỗi thường gặp trong bài làm văn của học sinh. 1. Lỗi…

Những lưu ý khi tiến hành làm bài văn nghị luận.

Những lưu ý khi viết luận văn. 1. Trước khi lên lớp học sinh phải phân tích đề. – Chỉ định định dạng tiêu đề. – Xác…

Cách làm bài văn nghị luận văn học không bị lạc đề.

Cách làm bài văn nghị luận văn học không bị lạc đề. A. Mở đầu. Trong khi làm bài văn nghị luận về tác phẩm văn học,…

Nghị luận: Thơ ca là cái đẹp đi tìm

tranh luận: thơ là vẻ đẹp được tìm kiếm. Một chuyên gia thẩm mỹ cho biết: Tất cả các thể chế chính trị đều qua đi, chỉ…

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *