Ôn tập luyện thi văn bản “Nói với con” (Y Phương

noi-voi-con-y-phuong

Nói với con
(Y Phương)

I. Tìm hiểu chung.

1. Tác giả: Y Phương.

Y Phương là nhà thơ dân tộc Tày. Thơ ông thể hiện tâm hồn chân thật, mạnh mẽ và trong sáng,cách tư duy giàu hình ảnh của người miền núi.

2. Tác phẩm:

– Hoàn cảnh sáng tác: Bài thơ ra đời vào năm 1980, khi đời sống tinh thần và vật chất của nhân dân cả nước nói chung, nhân dân các dân tộc thiểu số ở miền núi nói riêng vô cùng khó khăn, thiếu thốn. Từ hiện thức khó khăn ấy, nhà thơ viết bài thơ này để tâm sự với chính mình, động viên mình, đồng thời để nhắc nhở con cái sau này.

– Bố cục 2 phần:

+ Phần 1: Từ đầu đến “Ngày đầu tiên đẹp nhất trên đời”: Người cha nói với con cội nguồn sinh dưỡng: Con lớn lên trong tình yêu thương,sự nâng đỡ của cha mẹ, trong cuộc sống lao động nên thơ của quê hương.

+ Phần 2: Còn lại: Đức tính tốt đẹp của người đồng mình. Người cha bộc lộ lòng tự hào về sức sống mạnh mẽ, bền bỉ, về truyền thống cao đẹp của quê hương và mong ước con hãy kế tục xứng đáng truyền thống ấy.

Bố cục chặt chẽ, lớp lang, đi từ tình cảm gia đình mà mở rộng ra tình cảm quê hương, từ những kỉ niệm gần gũi mà nâng lên thành lẽ sống.

II. Phân tích bài thơ.

1. Quê hương, gia đình là cội nguồn sinh dưỡng của mỗi con người .

– Mở đầu bài thơ, Y Phương khẳng định gia đình, quê hương chính là cội nguồn sinh dưỡng mỗi con người:

Chân phải bước tới cha
Chân trái bước tới mẹ
Một bước chạm tiếng nói
Hai bước tới tiếng cười.

– Nhịp thơ 2/3, cấu trúc đối xứng, nhiều từ được láy lại,tạo ra một âm điệu tươi vui, quấn quýt: “chân phải” – “chân trái”, rồi “một bước” – “hai bước”, rồi lại “tiếng nói” – “tiếng cười”….

– Bằng những hình ảnh cụ thể, giàu chất thơ kết hợp với nét độc đáo trong tư duy, cách diễn đạt của người miền núi, bốn câu thơ mở ra khung cảnh một gia đình ấm cúng, đầy ắp niềm vui, đầy ắp tiếng nói cười. Lời thơ gợi vẽ ra trước mắt người đọc hình ảnh em bé đang chập chững tập đi, đang bi bô tập nói, lúc thì sa vào lòng mẹ, lúc thì níu lấy tay cha. Ta có thể hình dung được gương mặt tràn ngập tình yêu thương, ánh mắt long lanh rạng rỡ cùng với vòng tay dang rộng của cha mẹ đưa ra đón đứa con vào lòng.

–  Từng câu, từng chữ đều toát lên niềm tự hào và hạnh phúc tràn đầy.Cả ngôi nhà như rung lên trong “tiếng nói”, “tiếng cười” của cha, của mẹ.Mỗi bước con đi, mỗi tiếng con cười đều được cha mẹ đón nhận, chăm chút mừng vui. Trong tình yêu thương, trong sự nâng niu của cha mẹ, con lớn khôn từng ngày.

– Tình cha mẹ đối với con cái rất thiêng liêng, sâu kín, mối dây ràng buộc, gắn kết gia đình bền chặt đã được hình thành từ những giây phút hạnh phúc bình dị, đáng nhớ ấy. Lời thơ ngay từ đầu đã chạm đến sợi dây tình cảm gia đình sâu kín của mỗi con người nên tạo được sự đồng cảm, rung động sâu sắc đến độc giả.

– Cội nguồn sinh dưỡng của mỗi con người được Y Phương nói đến không chỉ là gia đình mà còn là quê hương, là thiên nhiên tươi đẹp và thấm đượm nghĩa tình. Như bầu sữa tinh thần thứ hai, quê hương với cuộc sống lao động, với thiên nhiên tươi đẹp, tình nghĩa đã nuôi dưỡng, sẻ chia giúp cho con trưởng thành:

Người đồng mình yêu lắm, con ơi!
Đan lờ cài nan hoa
Vách nhà ken câu hát.

– Quê hương hiện ra qua hình ảnh của người đồng mình. Nói với con về những “người đồng mình”, nhà thơ như đang giới thiệu ân cần đây là những người bản mình, người vùng mình, người dân quê mình gần gũi, thân thương. Cách gọi như thế, cùng với hô ngữ “con ơi” khiến lời thơ trở nên tha thiết, trìu mến. Người đồng mình là những con người đáng yêu, đáng quý: “Đan lờ cài nan hoa / Vách nhà ken câu hát”.

– Cuộc sống lao động cần cù và tươi vui của họ được gợi ra qua những hình ảnh thật đẹp!  Những nan nứa,nan tre dưới bàn tay tài hoa của người quê mình đã trở thành “nan hoa”. Vách nhà không chỉ ken bằng tre, gỗ mà còn được ken bằng những câu hát si, hát lượn. Các động từ “cài”, “ken” vừa miêu tả chính xác động tác khéo léo trong lao động vừa gợi sự gắn bó, quấn quýt của những con người quê hương trong cuộc sống lao động. Cái “yêu lắm” của “người đồng mình” là gì nếu không phải là cốt cách tài hoa, là tinh thần vui sống? Phải chăng, ẩn chứa bên trong cái dáng vẻ thô mộc là một tâm hồn phong phú, lãng mạn biết bao?

– Quê hương với những con người tài hoa, tâm hồn lãng mạn,cũng là quê hương với thiên nhiên thơ mộng, nghĩa tình:

“Rừng cho hoa
Con đường cho những tấm lòng.”

Y Phương chỉ chọn hình ảnh “hoa” để nói về vẻ đẹp cảnh quan của rừng. Nhưng hình ảnh ấy có sức gợi rất lớn, gợi về những gì đẹp đẽ và tinh tuý nhất. Sắc hoa trong bài thơ có thể là hoa thực – như một đặc điểm của rừng – và khi đặt trong mạch của bài thơ, hình ảnh này là một tín hiệu thẩm mĩ góp phần diễn đạt điều tác giả đang muốn khái quát: chính những gì đẹp đẽ của quê hương đã hun đúc nên tâm hồn cao đẹp của con người ở đó.

– Quê hương còn hiện diện trong những gì gần gũi, thân thương. Đó cũng chính là một nguồn mạch yêu thương vẫn tha thiết chảy trong tâm hồn mỗi người, bởi “con đường cho những tấm lòng”. Điệp từ “cho” mang nặng nghĩa tình. Thiên nhiên đem đến cho con người những thứ cần để lớn, giành tặng cho con người những gì đẹp đẽ nhất.Thiên nhiên đã che chở, nuôi dưỡng con người cả về tâm hồn và lối sống.

Bằng cách nhân hoá “rừng” và “con đường” cùng với điệp từ “cho”, người đọc có thể nhận ra lối sống tình nghĩa của “người đồng mình”. Quê hương ấy chính là cái nôi để đưa con vào cuộc sống êm đềm.

– Sung sướng ôm con thơ vào lòng, người cha nói với con về kỉ niệm có tính chất khởi đầu cho hạnh phúc gia đình:

“Cha mẹ mãi nhớ về ngày cưới
Ngày đầu tiên đẹp nhất trên đời.”

– Mạch thơ có sự đan xen, mở rộng: từ tình cảm gia đình mà nói tới quê hương. Đoạn thơ vừa là một lời tâm tình ấm áp, vừa là một lời dặn dò đầy tin cậy của người cha tra ogửi tới con. Bằng những hình ảnh thơ đẹp,giản dị bằng cách nói cụ thể, độc đáo mà gần gũi của người miền núi, người cha muốn nói với con rằng:vòng tay yêu thương của cha mẹ, gia đình,nghĩa tình sâu nặng của quê hương làng bản, đó là cái nôi đã nuôi con khôn lớn,là cội nguồn sinh dưỡng của con. Con hãy khắc ghi điều đó.

2. Những phẩm chất tốt đẹp của người đồng mình.

– Trong cái ngọt ngào của kỉ niệm về gia đình và quê hương,người cha đã tha thiết nói với con về những phẩm chất tốt đẹp của người đồng mình.

a. Người đồng mình biết lo toan và giàu mơ ước (giàu ý chí, nghị lực ).

– Người đồng mình không chỉ là những con người giản dị, tài hoa trong cuộc sống lao động mà còn là những con người biết lo toan và giàu mơ ước:

“Người đồng mình thương lắm con ơi!
Cao đo nỗi buồn
Xa nuôi chi lớn.”

– Nếu ở đầu bài thơ, nhà thơ viết: “yêu lắm con ơi” thể hiện tình yêu cuộc sống vui tươi bình dị, yêu bản làng thơ mộng, yêu những tấm lòng chân thật nghĩa tình, thì đến đây người cha nói “thương lắm con ơi” bởi sau từ “thương” đó là những những nỗi vất vả, gian khó của con người quê hương. Người cha biểu lộ tình cảm yêu thương chân thành về gian truân, thử thách cùng ý chí mà người đồng mình đã trải qua. Bằng cách tư duy độc đáo của người miền núi, Y Phương đã lấy cái cao vời vợi của trời để đo nỗi buồn, lấy cái xa của đất để đo ý chí con người.

– “Cao đo nỗi buồn / Xa nuôi chí lớn” gợi lên ý chí chinh phục hoàn cảnh, không ngừng khát vọng vươn cao, vuwon xa của những người đồng mình. Sắp xếp tính từ “cao”, “xa” trong sự tăng tiến, nhà thơ cho thấy khó khăn, thử thách càng lớn thì ý chí con người càng mạnh mẽ. Có thể nói, cuộc sống của người đồng mình còn nhiều nỗi buồn, còn nhiều bộn bề thiếu thốn song họ sẽ vượt qua tất cả, bởi họ có ý chí và nghị lực, họ luôn tin tưởng vào tương lai tốt đẹp của dân tộc.

b. Người đồng mình dù sống trong nghèo khổ, gian nan vẫn thủy chung gắn bó với quê hương, cội nguồn.

“Sống trên đá không chê đá gập ghềnh
Sống trong thung không chê thung nghèo đói
Sống như sông như suối
Lên thác xuống ghềnh
Không lo cực nhọc”

– Phép liệt kê với những hỉnh ảnh ẩn dụ “đá gập ghềnh”,“thung nghèo đói”. Hình ảnh thơ gợi cuộc sống đói nghèo, khó khăn, cực nhọc. Cách vận dụng thành ngữ dân gian “lên thác xuống ghềnh”, khiến cho ý thơ có thể bao nỗi vất vả, lam lũ của con người đồng thời khẳng định sức mạnh chiến thắng của họ trong cuộc sống vốn rất khắc nghiệt.

– Những câu thơ dài ngắn, cùng những thanh trắc tạo ấn tượng về cuộc sống trắc trở, gian nan, đói nghèo của quê hương. Điệp ngữ “sống”, “không chê” và điệp cấu trúc câu cùng hình ảnh đối xứng đã nhấn mạnh: người đồng mình có thể nghèo nàn, thiếu thốn về vật chất nhưng họ không thiếu ý chí và quyết tâm. Người đồng mình chấp nhận và thủy chung gắn bó cùng quê hương, dẫu quê hương có đói nghèo, vất vả. Và phải chăng, chính cuộc sống nhọc nhằn, đầy vất vả khổ đau ấy đã tôi luyện cho chí lớn để rồi tình yêu quê hương sẽ tạo nên sức mạnh giúp họ vượt qua tất cả. Phép so sánh “Sống như sông như suối” gợi vẻ đẹp tâm hồn và ý chí của người đồng mình. Gian khó là thế, họ vẫn tràn đầy sinh lực, tâm hồn lãng mạn, khoáng đạt như hình ảnh đại ngàn của sông núi. Tình cảm của họ trong trẻo, dạt dào như dòng suối, con sống trước niềm tin yêu cuộc sống, tin yêu con người.

c. Người đồng mình có ý thức tự lập, tự cường và tinh thần tự tôn dân tộc:

– Phẩm chất của người của con người quê hương còn được người cha ca ngợi qua cách nói đối lập tương phản giữa hình thức bên ngoài và giá trị tinh thần bên trong, nhưng rất đúng với người miền núi:

“Người đồng mình thô sơ da thịt
Chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con”

– Lời thơ mộc mạc, giản dị nhưng chứa bao tâm tình. Cụm từ “thô sơ da thịt” là cách nói bằng hình ảnh cụ thể của bà con dân tộc Tày, ngợi ca những con người mộc mạc, giản dị, chất phác, thật thà, chịu thương, chịu khó. Cụm từ “chẳng nhỏ bé” khẳng định sự lớn lao của ý chí, của nghị lực, cốt cách và niềm tin.

– Sự tương phản này đã tôn lên tầm vóc của người đồng mình. Họ mộc mạc nhưng giàu chí khí, niềm tin. Họ có thể “thô sơ da thịt” nhưng không hề nhỏ bé về tâm hồn, về ý chí, về mong ước xây dựng quê hương:

“Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương
Còn quê hương thì làm phong tục.”

– Lối nói đậm ngôn ngữ dân tộc độc đáo, chứa đựng ý vị sâu xa. Hình ảnh “Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương” vừa mang tính tả thực (chỉ truyền thống làm nhà kê đá cho cao của người miền núi), vừa mang ý nghĩa ẩn dụ sâu sắc: nghị lực vượt qua khó khăn, chinh phục cuộc sống nơi núi rừng của người đồng mình. Người đồng mình bằng chính bàn tay và khối óc, bằng sức lao động đã xây dựng và làm đẹp giàu cho quê hương, xây dựng để nâng tầm quê hương. Còn quê hương là điểm tựa tinh thần với phong tục tập quán nâng đỡ những con người có chí khí và niềm tin. Câu thơ đã khái quát về tinh thần tự tôn dân tộc, về ý thức bảo vệ nguồn cội, bảo tồn những truyền thống quê hương tốt đẹp của người đồng mình.

– Khép lại đoạn thơ bằng âm hưởng của một lời nhắn nhủ trìu mến với biết bao niềm tin hi vọng của người cha đặt vào đứa con yêu:

“Con ơi tuy thô sơ da thịt
Lên đường
Không bao giờ nhỏ bé được
Nghe con.”

– Ý thơ “tuy thô sơ da thịt”“không bao giờ nhỏ bé” được lặp lại với bốn câu thơ trước đó càng trở nên da diết, khắc sâu trong lòng con về những phẩm chất cao đẹp của “người đồng mình”.  Nhưng hai tiếng “lên đường” cho thấy người con đã lớn khôn và tạm biệt gia đình, quê hương để bước vào một trang đời mới. Trong hành trang của người con mang theo khi “lên đường” có một thứ quí giá hơn mọi thứ trên đời, đó là ý chí, nghị lực, truyền thống quê hương. Lời dặn của cha thật mộc mạc, dễ hiểu, thấm thía, ẩn chứa niềm hi vọng lớn lao của cha, hi vọng đứa con sẽ tiếp tục vững bước trên đường đời, tiếp nối truyền thống và làm vẻ vang quê hương. Hai tiếng “nghe con” lắng đọng bao cảm xúc, ẩn chứa tình yêu thương vô bờ bến của cha dành cho con. Câu thơ còn gợi ra một cảnh tượng cảm động đang diễn ra lúc chia li: cha hiền từ âu yếm nhìn con, xoa đầu con và người con ngoan ngoãn cúi đầu lắng nghe lời cha dặn.

– Ca ngợi những đức tính tốt đẹp của người đồng mình, cha mong con sống có tình nghĩa với quê hương, phải giữ đạo lí “Uống nước nhớ nguồn” của cha ông từ bao đời để lại. Hơn nữa, con phải biết chấp nhận gian khó và vươn lên bằng ý chí của mình. Người cha muốn con hiểu và cảm thông với cuộc sống khó khăn của quê hương, tự hào về truyền thống quê hương, tự hào về dân tộc để vững bước trên con đường đời, để tự tin trong cuộc sống.

– Người cha trong bài thơ của Y Phương đã vun đắp cho con một hành trang quý vào đời. Nếu mẹ là bông hoa cho con cài lên ngực thì cha là cánh chim cho con bay thật xa. Nếu mẹ cho con những lời ngọt ngào yêu thương vỗ về thì cha cho con tinh thần ý chí nghị lực, ước mơ khát vọng, lối sống cao đẹp.

– Giọng thơ thiết tha, trìu mến nhưng lại trang nghiêm. Các hình ảnh thơ cụ thể mà có tính khái quát, mộc mạc mà vẫn giàu chất thơ. Đoạn thơ chứa chan ý nghĩa,mộc mạc, đằm thắm mà sâu sắc. Nó tựa như một khúc ca nhẹ nhàng mà âm vang. Lời thơ tâm tình của người cha sẽ là hành trang đi theo con suốt cuộc đời và có lẽ mãi mãi là bài học bổ ích cho các bạn trẻ – bài học về niềm tin,nghị lực,ý chí vươn lên.

III. Tổng kết:

1. Nội dung:

– Bài thơ thể hiện tình cảm gia đình ấm cúng, ca ngợi truyền thống cần cù, sức sống mạnh mẽ của quê hương và dân tộc. Bài thơ giúp ta hiểu thêm về sức sống và vẻ đẹp tâm hồn của một dân tộc miền núi , gợi nhắc tình cảm gắn bó với truyền thống, với quê hương và ý chí vươn lên trong cuộc sống. Với “Nói với con”, Y Phương không chỉ sắp xếp hành trang cho riêng đứa con yêu quý của mình, mà cũng là hành trang ông muốn trao gửi cho tất cả những ai đang bước đi trên đường đời.

2. Nghệ thuật:

– Thể thơ tự do với câu ngắn dài đan xen linh hoạt phù hợp diễn tả lời tâm tình.

– Nhịp điệu vui tươi, các hình ảnh thơ đẹp, sử dụng các biện pháp tu từ quen thuộc,…

– Bài thơ giản dị,với những hình ảnh vừa cụ thể vừa mang ý nghĩa biểu tượng, giàu sắc thái biểu đạt và biểu cảm.

– Cách nói giàu bản sắc của người miền núi tạo nên một giọng điệu riêng cho lời tâm tình mộc mạc mà sâu sắc của người cha đối với đứa con.

Câu hỏi ôn tập.

Câu 1. Chứng minh: Gia đình, quê hương là cội nguồn sinh dưỡng của mỗi con người.

* Quê hương và gia đình nuôi con khôn lớn.

– Cội nguồn gia đình: “Chân phải- chân trái”, “một bước- hai bước”: phép đối tạo âm điệu vui tươi, tạo không khí đầm ấm, hạnh phúc, mỗi nhịp bước của con đều có cha mẹ dang rộng vòng tay che chở. Đó là tình cảm thiêng liêng mà con luôn phải khắc cốt ghi tâm.

– Cội nguồn quê hương:

+ Đan lờ (dụng cụ đánh bắt cá), đan lờ cài nan hoa( công việc đã tạo nên vẻ đẹp của con người lao động), vách nhà ken câu hát( cuộc sống hòa với niềm vui”: Cuộc sống lao động của người đồng mình được gợi lên qua nhiều hình ảnh đẹp đẽ.

+ Sử dụng các động từ: đan, ken ,cài : vừa diễn tả những động tác cụ thể , khéo léo vừa nói lên cuộc sống gắn bó với niềm vui.

+ “Rừng cho hoa”: nhân hóa rừng không chỉ cho gỗ, cho lâm sản mà còn cho hoa. Thể hiện vẻ đẹp tinh thần của con người miền núi.

+ “Con đường cho những tấm lòng”: đâu chỉ dẫn lối mà còn cho những tấm lòng cao cả tấm lòng cao cả, thủy chung.

Câu 2: Cảm nhận vẻ đẹp phẩm chất của “người đồng mình”.

“Người đồng mình” là chỉ những người sống chung trên một miền quê, cùng một dân tộc, “thương lắm” nói lên sự gắn bó yêu thương, đùm bọc.

– Người đồng mình có chí khí mạnh mẽ: Nỗi buồn được cụ thể hóa bằng chiều cao, chí được đo bằng độ xa. Người đọc có thể cảm nhận nỗi buồn chồng chất trong cuộc sống của họ. Cuộc sống vẫn nhiều buồn lo cực nhọc nhưng tâm càng sáng chí càng bền, tầm nhìn càng xa càng rộng.

– Người đồng mình thủy chung tình nghĩa: “Sống”- khẳng định tâm thế bản lĩnh kiên cường, bất chấp khó khăn gian khổ. Mặc dù cuộc sống quê hương khó khăn vất vả nhưng họ “không chê”, học vẫn thủy chung với quê hương, gắn bó với quê hương để tạo dựng cuộc sống.

– Người đồng mình có lối sống phóng khoáng đầy nghị lực. Cách so sánh độc đáo “như sống như suối” thể hiện sức sống mãnh liệt, đầy ắp nghĩa tình. Dù “lên thác xuống ghềnh” nhưng người đồng mình vẫn không lo cực nhọc, vẫn đầy sự yêu mến tự hào về quê hương.

– Người đồng mình giàu lòng tự trọng“Người đồng mình thô sơ da thịt” nhưng họ có thể thô ráp, nói không hay, làm không khéo, làn da mái tóc dãi dầu mưa nắng nhưng phẩm chất bên trong không hề nhỏ bé, tầm thường.

– Người đồng mình khát vọng xây dựng quê hương giàu đẹp: Người đồng mình tự lực tự cường, tự xây dựng quê hương bằng bàn tay khối óc. Họ xây dựng quê hương từng ngày với khát vọng lớn lao.

Người cha gợi cho con niềm tự hào và khát vọng xây dựng quê hương, kế tục truyền thống đáng tự hào của dân tộc.

Câu 3. Cảm nhận điều người cha mong muốn ở con qua 4 câu thơ cuối:

“Con ơi tuy thô sơ da thịt
Lên đường
Không bao giờ nhỏ bé được
Nghe con”

– Cha nhắc con về tình yêu đối với “người đồng mình tuy thô sơ da thịt” nhưng đáng yêu, đáng quý.

– Cha nhắc con mai này “lên đường” là khi con trưởng thành, dù ở bất cứ đâu, đi bất cứ nới nào cũng không bao giờ được sống một cách tầm thường phải luôn giữ lấy cốt cách giản dị, ý chí của dân tộc để vững bước

Qua những lời thwo tha thiết, người cha thể hiện tình yêu con vô hạn. Đó còn là lời của cha anh đi trước nhắc nhở thế hệ trẻ hôm nay phải vững tin vào cuộc đời để xây dựng quê hương giàu đẹp. Qua lời nhắc nhở, người cha đưa con về với cội nguồn sinh dưỡng nhắc nhở con phát huy phẩm chất cao đẹp của quê hương để vững bước trên cuộc đời.

Từ ý thơ Nói với con của Y Phương, hãy suy nghĩ về cách thể hiện tình yêu quê hương của mỗi con người


Phân tích bài thơ “Nói với con” của Y Phương.

Y Phương người dân tộc Tày, là một trong số ít các nhà văn người dân tộc có đóng góp quan trọng trong sự phát triển của nền văn học Việt Nam thế kỉ XX. Bài thơ “Nói với con” ra đời vào năm 1980 – khi đời sống tinh thần và vật chất của nhân dân cả nước nói chung, nhân dân các dân tộc thiểu số ở miền núi nói riêng vô cùng khó khăn, thiếu thốn. Mượn lời dặn con, nhà thơ bày tỏ niềm tự hào lớn lao đối với quê hương, xứ sở và mong ước đến một ngày mai tươi sáng của quê hương, đất nước.

Mở đầu bài thơ, mượn những lời nói tâm tình với con, Y Phương gợi về cội nguồn sinh dưỡng của mỗi con người. Gia đình và quê hương là cái nôi êm để từ đó con người lớn lên, trưởng thành.

Chân phải bước tới cha
Chân trái bước tới mẹ
Một bước chạm tiếng nói
Hai bước tới tiếng cười

Bốn câu đầu của bài thơ gợi lên một bức tranh gia đình thường gặp trong đời sống hàng ngày: con đang tập đi, cha mẹ vây quanh mừng vui, hân hoan. Từng bước đi, từng tiếng nói, tiếng cười của con đều được cha mẹ chăm chút, mừng vui đón nhận. Đằng sau bức tranh này, tác giả muốn khái quát một điều là con lớn lên bằng tình yêu thương, sự nâng đón, vỗ về mong chờ của mẹ cha. Những hình ảnh cụ thể “chân phải bước tới cha”, “chân trái bước tới mẹ”, cùng với những âm thanh “tiếng nói”, “tiếng cười” sống động vui tươi gợi lên một không khí gia đình đầm ấm, quấn quýt, tràn đầy hạnh phúc.

Như vậy tình yêu của cha mẹ dành cho con và không khí gia đình đầm ấm hạnh phúc là yếu tố đầu tiên hình thành nên những phẩm chất tốt đẹp cho tâm hồn con. Một điều cần lưu ý Y Phương viết bài thơ năm 1980, khi nhà thơ còn khoác áo lính nên tác phong quân đội thâm nhập trong hồn thơ. Các từ “”phải”, “trái”, một”, “hai” như nhịp bước quân hành vừa tạo âm điệu nhịp nhàng tươi vui cho bài thơ đồng thời cũng là ân tình nhắn nhủ sâu sắc cho những bước vững chắc của con khi bước vào cuộc đời.

Có thể nói, tình cảm gia đình là một trong những đề tài quen thuộc của thơ văn. Đã có rất nhiều tác giả khai thác thành công mảng đề tài này. nữ sĩ tài hoa Xuân Quỳnh lý giả thật dung dị mà chân thành, sâu sắc:

Muốn cho trẻ hiểu biết
Thế là bố sinh ra
Bố bảo cho biết ngoan
Bố dạy cho biết nghĩ

(Chuyện cổ tích về loài người)

Bên cạnh tình cảm gia đình thắm thiết, cuộc sống lao động và quê hương cũng là yếu tố giúp con trưởng thành và bồi đắp cho con những phẩm chất tốt đẹp. Để thể hiện điều đó, ở khổ thơ tiếp theo, Y Phương đã sử dụng những hình ảnh, cách nói của người dân miền núi:

Người đồng mình yêu lắm con ơi
Đan lờ cài nan hoa
Vách nhà ken câu hát

Âm điệu câu thơ trìu mến thân thương. “Người đồng mình” có nghĩa là người vùng mình, người miền mình. Nói về cuộc sống lao động của “người đồng mình”, tác giả đã chọn và miêu tả công việc “đan lờ” và ken “vách nhà”. Nhà văn Nguyễn Tuân đã từng ca ngợi ông lái đò có “bàn tay lái ra hoa” và trong bài thơ này của Y Phương, dưới bàn tay lao động của người Tày, những nan tre, nan nứa dùng để đan lờ thành những “nan hoa”. Vách nhà của người Tày không chỉ ken bằng ván gỗ mà còn được ken bằng cả câu hát vui tươi.

Các động từ “cài”, “ken” vừa miêu tả cụ thể công việc lao động vừa thể hiện tình cảm gắn bó, khăng khít của con người. Hình ảnh “vách nhà ken câu hát” còn ẩn chứa một nét văn hóa phi vật thể của đồng bào dân tộc. “Vách nhà” là nhân chứng cho tình yêu lứa đôi. Những đêm sáng trăng, người con trai ngồi ngoài vách, người con gái ở bên trong vách. Họ hát cho nhau nghe những giai điệu tuổi trẻ, những giai điệu yêu thương. Họ hát tàn đêm đến sáng. Và cũng từ những câu hát ấy đã kết tinh thành tình yêu, tình vợ chồng mãi mãi bền chặt, để niềm vui chào đón đứa con ra đời.

Sự tài hoa, tinh thần lao động cần cù và cuộc sống tươi vui, tình yêu, nét đẹp văn hóa của người “đồng mình” chính là nguồn cội để nuôi dưỡng tâm hồn người con. Chúng ta ai cũng có một quê hương để thương, để nhớ với những hình ảnh bình dị, gần gũi, thân tình. Nhà thơ Tế Hanh nhớ về dòng sông quê xanh biếc “nước gương trong soi tóc những hàng tre”, nhà thơ Đỗ Trung Quân nhớ về con đường đi học “Rợp bướm vàng bay”... còn Y Phương khi viết về quê hương mình thì lại viết về núi rừng và những con đường tình nghĩa:

Rừng cho hoa
Con đường cho những tấm lòng

Quê hương của Y Phương là tỉnh Cao Bằng, một tỉnh miền núi, nên rừng là hình ảnh thiên nhiên đặc trưng nhất. Rừng che chở, cung cấp nguồn sống cho con người. “Hoa” là kết tinh, là nét đẹp của cuộc sống. Những cánh hoa rừng làm đẹp cho cuộc đời và dạy cho con người biết yêu quý thiên nhiên. Chính thiên nhiên thơ mộng và con đường mà mọi người đến với nhau với những tấm lòng đầy tình nghĩa của quê hương đã bồi dưỡng nên tâm hồn cao đẹp cho con, dạy cho con biết yêu thiên nhiên, yêu quê hương, yêu con người chân thành sâu sắc.

Ở khổ thơ tiếp theo, Y phương tiếp tục viết về con người đồng mình bằng cách ca ngợi những đức tính cao đẹp của người dân quê mình. “Người đồng mình” trong bài thơ không chỉ khéo léo tài hoa, yêu đời mà người đồng mình còn có nhiều đức tính phẩm chất cao đẹp đáng tự hào khác:

Người đồng mình thương lắm con ơi
Cao đo nỗi buồn
Xa nuôi chí lớn

Tứ thơ được lặp lại thiết tha trìu mến “người đồng mình yêu lắm (thương lắm) con ơi” như một lời tâm niệm của người cha truyền lại cho con, cho con thêm sức mạnh, thêm ngọn lửa của lòng yêu quê hương mà vững bước trong cuộc đời. Nói về phẩm chất của “người đồng mình”, nhà thơ đã có một cách nói khác lạ nhưng rất hay “Cao đo nỗi buồn / xa nuôi chí lớn”. Hai câu thơ bốn chữ đăng đối như tục ngữ lấy sự từng trải (buồn) để đo chiều cao, lấy chí lớn để đánh giá độ xa nhằm thể hiện chí khí, bản lĩnh sống kiên cường của đồng bào dân tộc Tày nơi chốn núi rừng. Hình ảnh thơ như rộng mở cả ba chiều không gian, chiều cao, chiều xa và cả ý chí con người.

Từ việc ca ngợi những đức tính cao đẹp của “người đồng mình”, nhà thơ muốn khuyên con:

Dẫu làm sao thì cha vẫn muốn
Sống trên đá không chê đá gập ghềnh
Sống trong thung không chê thung nghèo đói
Sống như sông như suối
Lên thác xuống ghềnh
Không lo cực nhọc

Lời khuyên của người cha với con trong những câu thơ trên thực chất là một lời khuyên về đạo lí làm người. Sau bao năm dài chiến tranh, quê hương ta còn nhiều gian khó, nhất là vùng rừng núi phía Bắc, nhưng con không được phụ bạc “không chê … không chê … không lo” con phải sống có nghĩa tình chung thủy với quê hương. Nghệ thuật so sánh “sống như sông như suối” và thành ngữ “lên thác xuống ghềnh” được sử dụng tài tình trong bài thơ đã thể hiện được ước mong con biết chấp nhận và vượt qua mọi khó khăn thử của người cha. Điệp từ “sống” lặp ba lần ở đầu các câu thơ đã làm nổi bật lên mong muốn con cần phải có tâm thế, bản lĩnh trong cuộc sống của người cha. Câu thơ cô đọng, âm điệu câu thơ vững chải để nhấn mạnh lời khuyên người con phải biết vượt qua những cám dỗ của cuộc sống vật chất xa hoa mà xa rời cội nguồn dân tộc.

Lời thơ Y Phương tuy mộc mạc nhưng luôn đầy hình tượng, gợi người đọc nhiều suy nghĩ:

Người đồng mình thô sơ da thịt
Chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con
Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương
Còn quê hương thì làm phong tục.

Nói về bản chất mộc mạc, giản dị của người dân quê “chân lấm tay bùn”, người Kinh chúng ta thường dùng lối nói “ăn chắc mặc bền”, “chân đất lưng trần”, “niêu cơm quả cà” để diễn tả. Và Y phương cũng dùng cách nói hình ảnh, cụ thể của người Tày như: “thô sơ da thịt”, “chẳng mấy ai nhỏ bé”, “tự đục đá kê cao quê hương”... để ca ngợi sự giản dị chất phác thật thà, sức sống mạnh mẽ khoáng đạt, sự gắn bó bền bỉ với quê hương và tinh thần lao động cần cù nhẫn nại, ý chí khát vọng xây dựng quê hương bằng chính sức mình của người dân miền cao. Với những đức tính tốt đẹp đó, người dân đồng mình đã xây dựng lên quê hương yêu dấu với bao truyền thống, phong tục tốt đẹp.

Kết thúc bài thơ là những lời thiết tha xúc động:

Con ơi tuy thô sơ da thịt
Lên đường
Không bao giờ được nhỏ bé
Nghe con.

Âm điệu khổ thơ chuyển đổi câu dài, câu ngắn bằng giọng thơ thủ thỉ thiết tha chân tình nhưng cũng mạnh mẽ để khắc ghi vào tâm trí lời chỉ bảo của một người cha, tác giả mong muốn con hãy biết tự hào về quê hương, biết kế thừa phát huy những truyền thống tốt đẹp của dân tộc mình và tự tin vững bước trên đường đời không bao giờ được sống nhỏ bé tầm thường, phải sống mạnh mẽ khoáng đạt, biết giữ lấy cốt cách của “người đồng mình”. Bài thơ khép lại trong tiếng lòng sâu lắng “nghe con” mà âm ba cứ đọng lại trong lòng người niềm rung cảm về tình cha con về quan niệm sống trong cõi đời.

“Nói với con” của Y Phương với các hình ảnh thơ vừa cụ thể, giàu tính tạo hình vừa khái quát, mộc mạc trong cách dẫn dắt tự nhiên, đã góp thêm vào thi ca Việt Nam một nét mới, một cung bậc cảm xúc lạ để chúng ta hiểu hơn về tình cha con, về tâm tình của đồng bào dân tộc. Đồng thời bài thơ cũng là bức thông điệp, một quan niệm sống cao đẹp: “Không bao giờ được nhỏ bé / Nghe con.”

Phân tích bài thơ Nói với con của Y Phương


Tham khảo:

Trong số các nhà thơ dân tộc thiểu số, Y Phương là gương mặt khá tiêu biểu. Tác phẩm của ông khẳng định được vị thế riêng trong thơ ca hiện đại bởi một “chất giọng” đặc trưng của người Tày. Y

Y Phương luôn cần mẫn gom nhặt và làm sống dậy những giá trị nhân văn trong truyền thống văn hóa của cộng đồng người Tày. Dù viết về làng, về tình yêu đôi lứa hay về tình phụ tử, Y Phương cũng luôn có ý thức tái hiện linh hồn của văn hóa quê hương. Từ thơ Y Phương, người đọc có thể nhận ra một vùng văn hóa độc đáo và có bề dày mà ít nhiều còn khá bí ẩn. Bài thơ “Nói với con” là một khúc nhạc đàn Tính như thế – một khúc nhạc đan xem nhiều cung bậc.

Mang hình thức là những lời tâm tình, mộc mạc của người cha dành cho con nhưng vấn đề mà tác phẩm đặt ra không chỉ là tình phụ tử. Sự độc đáo ở “chất giọng” khiến tác phẩm vừa đầy hấp lực nhưng cũng có không ít trở lực đối với người làm công tác giảng dạy và nghiên cứu văn học. Khi được đưa vào chương trình Ngữ văn lớp 9 THCS, người ta càng nhận rõ điều này.

Xin được bắt đầu từ lối tư duy nghệ thuật trong bài thơ. Bài thơ có nhiều hình ảnh ngỡ phi lí, là kết quả của sự hòa hợp rất nhuyễn giữa tư duy nghệ thuật dân gian miền núi và tư duy thơ Tượng trưng, Siêu thực hiện đại. Nếu tư duy nghệ thuật dân gian miền núi ưa dùng lối trùng điệp thì tư duy nghệ thuật của thơ Tượng trưng và Siêu thực lại thích tìm đến sự giao thoa giữa các cảm giác và sự coi trọng nhạc tính của ngôn ngữ thơ. Có thể nhận diện sự hòa hợp ấy ngay trong những câu thơ đầu:

Chân phải bước tới cha
Chân trái bước tới mẹ
Một bước chạm tiếng nói
Hai bước tới tiếng cười.

Bốn câu thơ này là bức tranh về cảnh gia đình đầm ấm. Trong đó có ba nhân vật: người mẹ, người cha và đứa trẻ mà trung tâm là hình ảnh đứa trẻ đang tập đi. Sự hòa hợp giữa tư duy nghệ thuật dân gian miền núi và tư duy thơ Tượng trưng, Siêu thực đã được hóa thân thành các thủ pháp nghệ thuật để tái hiện những cử chỉ của đứa trẻ: có thủ pháp trùng điệp, có nghệ thuật sử dụng đối ý (chân phải – chân trái, một bước – hai bước, cha – mẹ, tiếng nói – tiếng cười) và có nghệ thuật tạo nhạc tính bằng sự phối thanh, bốn câu thơ dùng đến 15/20 thanh trắc.

Sự cộng hưởng của những thủ pháp nghệ thuật và nhất là sự phối thanh đã tạo nên những âm điệu gân guốc. Âm điệu ấy thích hợp với việc tái hiện hình ảnh đứa trẻ đang lẫm chẫm tập đi, cứ “chân phải” rồi “chân trái” một cách chập chững khó khăn. Khó khăn nhưng đầy phấn khích vì sự khích lệ nhiệt thành của cha mẹ. Cách dùng số đếm: “một bước”, “hai bước” cho thấy ánh nhìn của cha mẹ thật chăm chú, quan sát từng cử chỉ, trông chờ, đếm từng bước đi của con. Những bước chân lẫm chẫm được bao bọc bởi tình yêu thương của cha mẹ, tạo ra sự đáng yêu của đứa trẻ. Cứ như mỗi bước đều là một “thành tựu”, một dấu mốc cần được đếm để ghi nhớ. Nhưng điều lí thú hơn không phải là cách dùng số đếm mà là lối liên tưởng có vẻ phi lí, ngộ nghĩnh kiểu tư duy thơ Tượng trưng: “Một bước chạm tiếng nói / Hai bước tới tiếng cười”. Tiếng nói, tiếng cười vốn vô hình nhưng lại được hữu hình hóa để trở thành “cọc tiêu” định vị cho đứa trẻ “bước tới”. Thực ra, đó là hình thức “lạ hóa” ngôn từ để diễn tả không khí hạnh phúc trong ngôi nhà. Cơ hồ như khi đứa trẻ “cán đích” cũng là lúc cả ngôi nhà như rung lên, cả không gian xung quanh tan thành tiếng nói cười.

Đến những câu thơ tiếp theo, bài thơ bắt đầu chuyển mạch, chuyển giọng. Sau tiếng nói, tiếng cười ran lên từ “thành quả” tập đi, từ những bước đi đầu tiên của bé, chất thơ bắt đầu đọng vào sự sâu lắng suy tư khi nhân vật trữ tình – người cha “nói với con” về những điều ấp ủ. Từ đây, mạch thơ cứ đan cài giữa lòng yêu thương con và niềm tự hào về quê hương xứ sở.

Người đồng mình yêu lắm con ơi
Đan lờ cài nan hoa
Vách nhà ken câu hát
Rừng cho hoa
Con đường cho những tấm lòng
Cha mẹ mãi nhớ về ngày cưới
Ngày đầu tiên đẹp nhất trong đời.

Tứ của những câu thơ này tập trung xoay quanh ba hình ảnh. Thứ nhất là hình ảnh con người quê hương (được gọi bằng cái tên mộc mạc mà thân thương – người đồng mình). Hình ảnh này được miêu tả qua đôi bàn tay đan lờ bắt cá và ken vách làm nhà. Đó là bàn tay tài hoa. Hai động từ “đan” và “ken” vốn chẳng có gì sáng tạo, vậy mà ở đây chúng lại có một sức ám gợi đặc biệt. Hai động từ này đều có nét nghĩa tạo sự bện kết nhưng khi được liên tưởng tới “cài nan hoa” và “ken câu hát” thì chúng lập tức diễn tả một sự bện xoắn giữa giá trị lao động và giá trị nghệ thuật, bàn tay lao động cũng đồng thời là bàn tay tạo tác, mỗi thứ đồ vật cũng là một tạo tác văn hóa. Nhất là lối liên tưởng “vách nhà ken câu hát”.

Cũng như tiếng nói, tiếng cười ở bốn câu đầu, câu hát vốn phi vật thể lại được hình hài hóa thành vách nhà. Y Phương giải thích rằng: “Một điều nữa “vách nhà ken câu hát” là yếu tố văn hóa phi vật thể. Người con trai ngồi ngoài vách. Người con gái ở bên trong vách. Họ hát cho nhau nghe. Hát tràn đêm đến sáng bạch. Bởi thế, bức vách ở đây không chỉ là một bức vách cụ thể bằng đất, bằng đá nữa. Nó đã trở thành một chủ thể văn hóa”(1). Vậy là chỉ cần miêu tả đôi bàn tay với những chi tiết ngỡ phi lí, Y Phương đã tái hiện một nét tính cách đặc trưng của người Tày, ấy là lòng yêu ca hát, là sự tài hoa, lãng mạn. Và hơn thế, “vách nhà ken câu hát” đã làm bừng dậy một không gian văn hóa riêng miền cao.

Thứ hai là hình ảnh mảnh đất quê hương (được chấm phá bởi hai biểu tượng: “rừng” và “con đường”): “rừng cho hoa / con đường cho những tấm lòng”. Có thể diễn ý thơ thế này chăng: “Rừng cho hoa” là biểu tượng của thiên nhiên thơ mộng, cũng là biểu tượng của sự sinh sôi, biểu tượng của sức sống (hiểu theo nghĩa đơm hoa – kết trái). Con đường cũng là biểu tượng quen thuộc trong thơ ca để chỉ sự xóa nhòa các lằn ranh. “Con đường cho những tấm lòng” bởi nhờ nó mà con người có thể đến được với nhau. Vì thế, con đường là sợi dây nối liền tình cảm, cũng là sợi tơ duyên để nối kết những tâm hồn, trong đó có cha và mẹ. Bằng điệp từ “cho”, cũng là động từ chỉ sự trao tặng, dâng hiến, tác giả đã dành những lời ngợi ca ngắn gọn mà giàu cảm xúc về hình ảnh một mảnh đất quê hương hào phóng – mảnh đất đã ban tặng cho con người những gì tinh túy nhất: “cho hoa” và “cho những tấm lòng”.

Thứ ba là hình ảnh “ngày cưới” của cha mẹ, là “ngày đầu tiên”, là ngày “đẹp nhất”, đáng nhớ nhất trong đời. Ba hình ảnh này: con người – mảnh đất quê hương – ngày cưới của cha mẹ ngỡ chẳng liên kết gì và mạch thơ ngỡ như tản mạn nhưng xét kĩ lại khá tập trung. Chúng đều là những hình ảnh thơ nằm ở độ “thăng hoa”. Con người thì tài hoa, thiên nhiên thơ mộng hào phóng và nỗi nhớ thì gắn với ngày “đẹp nhất trong đời”. Cả ba hình ảnh đều đồng lòng gợi thức dậy ở đứa trẻ tình yêu thương, lòng gắn bó với cội nguồn sinh dưỡng. Rằng, con được sinh ra và được nâng niu trong một thế giới đầy sắc màu cổ tích. Đó là thế giới của những con người tài hoa, những tâm hồn lãng mạn, là thế giới của những con đường xuyên những cánh rừng đầy hoa và gần gũi hơn nữa, con được sinh ra từ tình yêu tha thiết giữa cha và mẹ (bằng chứng là nỗi nhớ “ngày đầu tiên đẹp nhất trong đời”). Một thế giới như thế sẽ đủ sức bao bọc con trong những êm đềm, những yêu thương; đủ sức nuôi lớn tâm hồn con và xứng đáng để con không phụ lòng.

Trong ba hình ảnh kể trên, tôi muốn bàn nhiều về vẻ đẹp của con người quê hương. Điều đó không hẳn do những liên tưởng thơ độc đáo mà là vị trí của hình ảnh này trong toàn tác phẩm. Điệp ngữ “người đồng mình” lặp lại bốn lần, tuy mỗi lần diễn tả một nét phẩm chất riêng song tổng gộp lại, “người đồng mình” là hiện thân đầy đủ nhất của truyền thống quê hương. Không chỉ tài hoa lãng mạn, “người đồng mình” còn là nơi hội tụ của ý chí, nghị lực, sự trong sáng nghĩa tình: “Người đồng mình thương lắm con ơi / Cao đo nỗi buồn / Xa nuôi chí lớn”; “người đồng mình” có thể “sống trên đá không chê đá gập ghềnh / Sống trong thung không chê thung nghèo khó” nghĩa là sống thủy chung, ơn nghĩa sâu nặng với quê hương, nghĩa là có khả năng thích nghi kỳ lạ trong bất cứ hoàn cảnh nào, như cây rừng có thể sinh sôi trên đá, xanh tốt trong thung, “người đồng mình” có thể bình thản đối mặt với gian khổ mà “không lo cực nhọc”, có thể vượt lên những cực nhọc bằng tính cách nhẫn nại phi thường:

Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương
Còn quê hương thì làm phong tục.

Trong hai câu này, câu trên có ba thanh trắc liền nhau “tự – đục – đá”. Sự liên hoàn của ba thanh trắc tạo nên âm điệu trúc trắc, nặng nhọc. Âm điệu ấy có tác dụng đắc địa trong việc tái hiện sự cặm cụi, nỗi nhọc nhằn của “người đồng mình” trong việc kiến tạo quê hương trên đá. Tiếp sau đó, bốn thanh bằng liên tiếp lại tạo ra một âm điệu nhẹ nhàng “kê – cao – quê – hương”. Sự liên hoàn của thanh bằng lại mở ra hình ảnh một thế đứng, một tầm vóc cao vời vợi của quê hương giữa mênh mang đất trời. Từ âm điệu trúc trắc đến nhẹ nhàng cũng tựa như một khúc thức trong một bản nhạc, mô phỏng hành trình của quê hương từ sự khó nhọc nặng nề khi dựng nghiệp đến khi ung dung, khoan khoái trước thế đứng vượt lên trên những “gập ghềnh” của đá.

Câu thơ dưới có 6 chữ mang thanh bằng và cuối câu lại là thanh trắc: “Còn – quê – hương – thì – làm – phong – tục”. Sự chuyển đổi âm điệu bằng trước – trắc sau ở câu này cũng là sự chuyển điệu từ êm nhẹ trước (bằng), nặng lắng (trắc) sau, là hướng chuyển điệu ngược lại với câu trên. Kết thúc bằng thanh trắc, câu thơ đã gợi được sự kết dệt, lắng đọng của những giá trị văn hóa bền vững. Nói rằng hai câu thơ này chứa đựng niềm tự hào về con người quê hương cũng được mà nói rằng đó là một triết lí được đúc rút từ bề dày truyền thống chắc cũng chẳng sai. “Sống trên đá không chê đã gập ghềnh” là thế, “tự đục đá kê cao quê hương” cũng là thế. Đó là sự hình tượng hóa quá trình không ngừng nghỉ của bao thế hệ “người đồng mình” nhằm tạo ra những giá trị sống. Đó là quá trình đầy cực nhọc và trong quá trình ấy, tâm hồn, trí tuệ của những con người “sống trên đá” đã lắng đọng lại thành những tập quán, phong tục hay nói rộng hơn là thành một bản sắc văn hóa riêng. Không biết có phải dụng ý của Y Phương hay không nhưng hai câu thơ này cứ như một khái quát về hành trình dựng nghiệp của tổ tiên từ thuở “khai thiên lập địa” đến giờ. Người đồng mình “tự đục đá” chứ không hề thụ động, chẳng dựa vào lực lượng siêu nhiên nào để kiến tạo quê hương.

Ở một phương diện nào đó, có thể coi, bài thơ Nói với con cũng là một trong những bằng chứng đánh dấu sự chuyển biến của văn học từ thời chiến sang thời bình. Trong những năm chiến tranh, truyền thống văn hóa cũng là đề tài hấp dẫn nhiều nhà thơ. Tuy nhiên, do yêu cầu của thời đại, người nghệ sĩ nếu có viết về truyền thống cũng không ngoài mục đích nhen lên ở người đọc niềm tự hào dân tộc. Đánh thức niềm tự hào dân tộc cũng là cách khơi lên sức mạnh tinh thần mà đánh giặc. Chẳng hạn, Nguyễn Khoa Điềm, song hành với việc tái hiện dáng vóc đất nước bằng những giá trị văn hóa đã nhắn nhủ thế hệ trẻ vùng tạm chiếm ở miền Nam: “Khi chúng ta cầm tay mọi người / Đất nước vẹn tròn to lớn” (Mặt đường khát vọng). Trong lời nhắn ấy có hàm ngôn chua chát: “chúng ta” (thế hệ trẻ ở các đô thị miền Nam) chưa hòa chung vào không khí đấu tranh của cả dân tộc, chưa “cầm tay mọi người” nên đất nước vẫn còn bị chia cắt, chưa được “vẹn tròn to lớn”.

Bài thơ Nói với con được viết khi giặc tan rồi. Chiến tranh được đẩy lùi nhưng nguy cơ mai một truyền thống lại nhỡn tiền. Như thế nếu điều Nguyễn Khoa Điềm quan tâm là chủ quyền, là đất nước thống nhất thì điều mà Y Phương quan tâm lại là bản sắc văn hóa. “Bài thơ Nói với con tôi viết năm 1980 – Y Phương nói – Đó là thời điểm đất nước ta gặp vô vàn khó khăn. Thời kỳ cả nước mới thoát ra khỏi cuộc chiến tranh chống Mỹ lâu dài và gian khổ. Giống như một người mới ốm dậy, xã hội khi ấy bắt đầu xuất hiện người tốt, kẻ xấu để tranh giành sự sống” và vì thế “cả xã hội lúc bấy giờ đang hối hả gấp gáp kiếm tìm tiền bạc (…) Muốn sống đàng hoàng như một con người, tôi nghĩ phải bám vào văn hóa”.

Từ những lời tâm sự này mà suy ra thì khi viết bài thơ Nói với con, Y Phương muốn giãi tỏ nỗi lo âu về sự mai một những giá trị văn hóa truyền thống trước tâm lí “hối hả gấp gáp kiếm tìm tiền bạc” của xã hội. Dấu hiệu ít ỏi nhưng dễ thấy nhất của nỗi lo âu ấy là câu thơ “Dẫu làm sao thì cha vẫn muốn”. Câu thơ này chia rõ làm hai trạng thái tâm tư: vừa là những dự cảm lại vừa đầy những khát khao. Ở nửa thứ nhất của câu thơ, ba từ “dẫu – làm – sao” là những dự cảm về sự đổi thay của thời cuộc. Đó không chỉ là tâm sự của Y Phương mà còn là nỗi niềm của cả một thế hệ nhà thơ ở thời kỳ đầu thống nhất đất nước.

Trong bài thơ Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa, Nguyễn Duy từng mượn hình ảnh lời ru để thể hiện hoài nghi về số phận của những giá trị truyền thống: “Bà ru mẹ, mẹ ru con / Liệu mai sau các con còn nhớ chăng?”. Như thế, điều mà Y Phương đặt ra cũng là vấn đề mang tầm thời đại. Đó cũng là vấn đề không thể xem thưởng bởi một lẽ đơn giản, một dân tộc đánh mất bản sắc văn hóa cũng đồng nghĩa với việc gương mặt tinh thần của dân tộc ấy bị xóa nhòa. Y Phương chắc cũng chưa hình dung hết số phận của những giá trị văn hóa truyền thống sẽ ra sao nhưng ba từ “dẫu – làm – sao” đã chứa chất đầy những đau đáu lo âu. Không lo sao được khi một người nặng lòng với cội nguồn mà phải chứng kiến nguồn cội của mình có vẻ như lung lay. Một trong những bằng chứng về sự nặng lòng ấy là những câu thơ trong bài Tên làng của ông:

“Ơi cái làng của mẹ sinh con
Có ngôi nhà xây bằng đá hộc
Có con đường trâu bò vàng đen đi kìn kịt
Có niềm vui lúa chín tràn trề
Có tình yêu tan thành tiếng thác
Vang lên trời
Vọng xuống đất
Cái tên làng Hiếu Lễ của con”.

Sau ngót 20 năm kể từ khi viết bài thơ, Y Phương lại than phiền “Tôi thấy, dường như giờ đây, nhiều con em các dân tộc không mấy mặn mà với văn hóa truyền thống. Và họ đang tự nguyện nhập ngoại, lai căng một cách dễ dãi. Tôi ủng hộ hòa nhập nhưng không thể hòa tan”. Ở nửa thứ hai của câu thơ, ba chữ “cha – vẫn – muốn” lại là một khát khao da diết. Từ “vẫn” nếu đứng độc lập sẽ chẳng có gì đặc biệt nhưng trong câu thơ này, nó được xem như một “nhãn tự” thể hiện ý thức bám víu quyết liệt. “Nhãn tự” này đã tạo cho câu thơ có một sắc thái bản lĩnh. Đó là biểu hiện của tâm thế ứng xử “dĩ bất biến ứng vạn biến” mà người cha muốn truyền cho con. Cái “vạn biến” là thời cuộc, là hoàn cảnh sống.

Hoàn cảnh sống có thể luôn biến đổi, mọi chuẩn mực hôm qua có thể không thích hợp với hôm nay,… thì người cha cũng chỉ mong muốn con mình giữ tâm thế “bất biến” trong ứng xử – cái tâm thế mà “dẫu làm sao” thì con cũng đừng quên cội nguồn sinh dưỡng: “Sống trên đá không chê đá gập ghềnh / Sống trong thung không chê thung nghèo khó”, “dẫu làm sao” chăng nữa, dẫu cuộc đời có dâu bể “vạn biến” đến mức như khi “lên thác”, lúc “xuống ghềnh” thì con cứ “sống như sông như suối”. Đó là cách so sánh khá sâu sắc. Sông suối là biến thể của biểu tượng nước, đối lập với hình ảnh đá trong bài thơ, nếu đá thuộc về “tính cương” thì nước thuộc về “tính nhu”, là biểu tượng của sự hồn nhiên, trong sáng, đồng thời cũng là biểu tượng của sức mạnh trí tuệ. Nước mềm mại nhưng “nước chảy đá mòn”, nước mềm mại nhưng có thể mạnh như thác lũ. Người cha muốn con phải kế thừa được tính cách truyền thống của “người đồng mình – “sống như sông như suối” là sống trong sáng, kiên nghị, mạnh mẽ “không lo cực nhọc”. Hồn nhiên đấy, tuy “thô sơ da thịt” đấy, chẳng diêm dúa cũng chẳng yêng hùng, khiêm nhường là vậy nhưng con người quê hương mình “chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con”. Vậy thì, để sống xứng đáng với truyền thống ấy, khi bước vào đời “không bao giờ nhỏ bé được / nghe con”. Đó là những câu kết ngắn gọn và chắc nịch, cũng là lời giáo huấn nghiêm khắc, là niềm hi vọng tha thiết mà người cha kỳ vọng ở con.

Tiếp cận tác phẩm này, cũng không nên cứng nhắc bám vào câu nói của Y Phương: lời thơ “tâm sự với con còn là tâm sự với chính mình”. Y Phương làm thơ không phải để để tặng tri kỉ như thời trung đại (ở thời trung đại, chỉ số ít người được ăn học mới biết chữ nên người trí thức sáng tác thơ ca không phải hướng đến công chúng mà chủ yếu để dành cho việc đối đáp, thù tạc trong các buổi yến tiệc hoặc dành tặng tri âm,…). Cũng như phần lớn thơ hiện đại, bài thơ Nói với con được sáng tác để đăng báo, để in thành sách. Vì thế, ngoài việc “nói với con” và “tâm sự với mình”, người nghệ sĩ còn phải hướng đến đông đảo công chúng và muốn truyền đến công chúng một thông điệp từng ấp ủ. Hiểu như vậy thì hình ảnh đứa trẻ trong bài thơ cũng vượt khỏi giới hạn là cô con gái đầu lòng của nhà thơ để trở thành biểu tượng của tương lai. Chắc chắn là vậy, con chính là biểu tượng của tương lai. “Nói với con” do đó còn là lời tâm sự, là di nguyện để gửi đến các thế hệ tương lai. Thì ra, việc kể cho con nghe về hành trình của cha ông phải dựng nghiệp trên đá, phải “tự đục đá kê cao quê hương” không phải để “ôn nghèo kể khổ” mà – như đã nói trên, để mong muốn con biết quý trọng thành quả do cha ông đã để lại. Từ đó, đặng nhen lên ở con, ở các thế hệ mai sau ý thức bảo tồn, bảo lưu những giá trị văn hóa mà cha ông đã dày công vun trồng.

Cuối cùng cũng cần nói về kết cấu của tác phẩm. Trong bài thơ, Y Phương dùng khá nhiều hình tượng lạ nhưng tiêu biểu nhất là cặp hình tượng đôi chân và con đường. Cặp hình tượng này khi lộ diện, lúc ẩn mình mà chủ yếu là ẩn mình nhưng có tác dụng quyết định trong việc tổ chức kết cấu của tác phẩm. Bắt đầu là đôi chân đến với mẹ cha, là đôi chân “chạm tiếng nói”, “tới tiếng cười”, rồi đôi chân dẫn đứa trẻ từ gia đình, theo “con đường cho những tấm lòng” đến với cộng đồng để hít thở, tắm mình trong bầu khí quyển văn hóa của quê hương. Cuối cùng là đôi chân: “lên đường / không bao giờ nhỏ bé được”. Từ lâu, các nhà lí luận phê bình đã phát hiện thấy kết cấu trong tác phẩm nghệ thuật cũng là một phương diện tạo nghĩa. Nhìn từ “sơ đồ” hành trình của đôi chân đứa trẻ mà người cha “phác thảo”, có thể thấy, đích đến đầu tiên là cha mẹ, đích đến thứ hai là môi trường văn hóa quê hương và cái đích cuối cùng là vào đời. Tôi ngờ rằng, kết cấu này không thể nằm ngoài ý nghĩa triết lí mà Y Phương muốn kí thác. Nghĩa là, theo Y Phương, mỗi con người muốn trưởng thành thì cần phải xuất phát từ gia đình, phải biết đến cha mẹ; sau nữa phải thủy chung với quê hương. Gia đình và quê hương là môi trường bồi đắp những giá trị sống nhân văn. Có gắn bó với gia đình, với quê hương tức là biết sống theo đạo lí “uống nước nhớ nguồn” mới tiếp nhận được vốn văn hóa đủ để khi bước vào đời “không bao giờ nhỏ bé được / nghe con”. Có thể, có người không đồng ý với quan niệm này của Y Phương nhưng tính nhân văn trong đó là điều không thể phủ nhận.

Nói với con của Y Phương là bài thơ cũng “thô sơ da thịt” nhưng “không bao giờ nhỏ bé được” vì tác phẩm đã làm sống dậy những nét bản sắc văn hóa của một cộng đồng, đặt ra những vấn đề mang tầm thời đại – vấn đề bảo lưu và phát triển văn hóa. Đặt vào bối cảnh hội nhập ngày nay, khi những sản phẩm văn hóa nước ngoài (ngoài mặt tích cực) đã khiến phần nhiều giới trẻ Việt Nam ngày càng nhạt tình với vốn văn hóa truyền thống ta mới thấm thía điều mà Y Phương đã dự cảm.

Phân tích bài thơ Nói với con của Y Phương

Chủ đề liên quan:

Tham Khảo Thêm:  Hãy làm rõ chất “chân quê” và tinh thần Thơ mới thể hiện trong khổ thơ đầu bài thơ "Tương tư" của Nguyễn Bính.

Related Posts

Nghị luận: Cái mất đáng tiếc là thời gian. Cái mất đáng lo là cơ hội. Cái mất đáng buồn là niềm tin. Cái mất đáng sợ là tình người

Mất mát đáng tiếc là thời gian. Lo lắng mất mát là cơ hội. Một mất mát đáng buồn là niềm tin. Mất mát ghê gớm là…

Vẻ đẹp phong cách nhà Nho trong Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ và Bài ca ngắn đi trên bãi cát của Cao Bá Quát.

Vẻ đẹp phong cách nhà Nho trong Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ và Bài ca ngắn đi trên bãi cát của Cao Bá Quát….

Những lỗi thường bị trừ điểm trong bài làm văn của học sinh.

Những lỗi thường bị trừ điểm trong bài làm văn của học sinh. I. Những lỗi thường gặp trong bài làm văn của học sinh. 1. Lỗi…

Những lưu ý khi tiến hành làm bài văn nghị luận.

Những lưu ý khi viết luận văn. 1. Trước khi lên lớp học sinh phải phân tích đề. – Chỉ định định dạng tiêu đề. – Xác…

Cách làm bài văn nghị luận văn học không bị lạc đề.

Cách làm bài văn nghị luận văn học không bị lạc đề. A. Mở đầu. Trong khi làm bài văn nghị luận về tác phẩm văn học,…

Nghị luận: Thơ ca là cái đẹp đi tìm

tranh luận: thơ là vẻ đẹp được tìm kiếm. Một chuyên gia thẩm mỹ cho biết: Tất cả các thể chế chính trị đều qua đi, chỉ…

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *