Phân tích bài thơ Tràng giang của Huy Cận

bài-thơ-Tràng-Giang-Huy-Cận

Phân tích bài thơ “Tràng giang” của Huy Cận.

Huy Cận là một trong những nhà thơ xuất sắc nhất của phong trào Thơ Mới. Ông nổi tiếng với các tác phẩm như: “Lửa Thiêng”, “Vũ trụ ca”, “Kinh cầu tự”… Trước cách mạng, thơ Huy Cận u sầu, ảo não, mang cảm hứng vũ trụ. Sau cách mạng, ông nhanh chống hòa nhập với cuộc sống mới và có những đóng góp xuất sắc. Bài thơ Tràng giang” rút từ tập “Lửa thiêng”, là một trong những bài thơ nổi tiếng nhất của Huy Cận trước cách mạng, thể hiện sâu sắc phong cách thơ của ông.

Bài thơ mở đầu bằng khổ thơ mang vẻ đẹp thiên nhiên đậm chất cổ thi. Cảnh vật thiên nhiên ấy lại được cảm nhận qua tâm hồn “sầu vạn kỷ” của nhà thơ:

“Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp
Con thuyền xuôi mái nước song song
Thuyền về nước lại sầu trăm ngả
Củi một cành khô lạc mấy dòng”

Ngay từ nhan đề “Tràng giang” đã gợi nên vẻ đẹp cổ thi: nhà thơ sử dụng âm Hán Việt:  “Tràng” là đọc chệch đi của chữ “trường” (nghĩa là dài), “giang” là sông. Tuy nhiên, “Tràng giang”  không chỉ có ý nghĩa là sông dài mà còn rộng là vì nhờ vào âm “ang” gợi cảm giác mênh mang. Cùng với đó là câu đề từ mang cảm xúc chủ đạo cho toàn bài gợi nhiều bâng khuâng man mác “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài”. Câu đề từ ấy chính là cảm xúc chủ đạo của bài thơ, là chiếc chìa khóa vạn năng mở cánh cửa vào bài thơ.

Ở khổ thơ thứ nhất, nhà thơ sử dụng một loạt các thi liệu trong thơ Đường như thuyền, nước, sóng, củi khô… Đây là một bức tranh đẹp như bức tranh thủy mặc nhưng đẹp mà buồn đến tái tê. Nhà phê bình Hoài Thanh nhận xét: “Thiên nhiên trong thơ Mới đẹp nhưng lại thấm đượm nỗi buồn da diết bâng khuâng”. Nỗi buồn đó được Huy Cận lý giải rằng “Chúng tôi lúc đó có một nỗi buồn thế hệ, nỗi buồn không tìm được lối ra nên kéo dài triền miên”. Đó chính là nỗi buồn của thi nhân sống trong cảnh nước mất nhà tan, và có lẽ vì người buồn nên “cảnh có vui đâu bao giờ”. Dòng tràng giang vì thế chỉ thấy một dải buồn bát ngát:

“Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp
Con thuyền xuôi mái nước song song”

Trong “Đăng Cao” của  Đỗ Phủ viết:

“Vô biên lạc mộc tiêu tiêu hạ
Bất tận Trường Giang cổn cổn lai”

So với “Đăng cao” của Đỗ Phủ, trong “Tràng giang” của Huy Cận thì cảnh tượng trong thơ Đỗ Phủ hùng vĩ, tráng lệ nhưng trong thế giới của Huy Cận thì những con sóng không phải cuồn cuộn trôi mà là sóng gợn làm ta hình dung ra những con sóng nhẹ lăn tăn trên tràng giang, lan nhẹ và mất hút giữa dòng chảy bao la. “Buồn điệp điệp” miêu tả cái buồn thiên nhiên nhưng kỳ thực là đang diễn tả nỗi buồn chất ngất trong lòng nhà thơ.

Phải chăng nỗi buồn thi nhân đang gợn lên từng đợt nỗi buồn như những lớp sóng. Dòng sông ấy, nhìn đâu cũng toàn một màu buồn bã: cảnh vật thì chia ly tan tác, thuyền và nước luôn gắn bó không bao giờ xa cách nhau nhưng trong mắt Huy Cận thì thuyền và nước không ăn nhập với nhau, cảnh vật chia lìa và từ đó mà nỗi sầu nhà thơ tỏa ra vũ trụ “sầu trăm ngả”. Con thuyền cũng không buồn lái, để mặc xuôi theo dòng nước lặng lờ. Ngay cả dòng nước trong bản thân con sông cũng không thiết đến nhau, cứ âm thầm mà chảy “song song”, vờ không quen biết nhau trong đời.

Câu thơ cuối cùng mang hình ảnh cái “tôi”: “Củi một cành khô lạc mấy dòng”. Lần đầu tiên trong lịch sử thơ ca nhân loại có một cành củi khô trôi dạt trong thơ Huy Cận như nỗi cô đơn của một kiếp người trong xã hội cũ. Cành củi đã nhỏ bé, lại là “cành củi khô” thì thật tội nghiệp không gì bằng, phải chăng nó là ẩn dụ của lớp người như thi nhân đang bấp bênh, trôi nổi giữa dòng xoáy của một đất nước mất chủ quyền?

Khổ thơ tiếp theo vẫn là nỗi buồn tiếp nối khổ một, cảnh vật vẫn được nhìn qua đôi mắt của nhà thơ:

“Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu
Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều
Nắng xuống trời lên sâu chót vót
Sông dài trời rộng bến cô liêu”.

Huy Cận nói, ông học được hai chữ “đìu hiu” từ Chinh Phụ ngâm:

“Non Kỳ quạnh quẽ trăng treo
Bến Phì gió thổi đìu hiu mấy gò”

Cảnh sắc trong Chinh Phụ ngâm đã vắng lặng hiu hắt nhưng cảnh trong “Tràng giang” lại vắng vẻ, hiu hắt, tàn tạ hơn nữa. Từ láy “lơ thơ” diễn tả sự thưa thớt, rời rạc của những cồn đất nhỏ nhoi mọc lên giữa dòng tràng giang.  Trên những cồn đất nhỏ đó, mọc lên những cây lau, sậy, khi gió thổi qua thì âm thanh phát ra nghe man mác, nghe “đìu hiu”não nuột.  Câu thơ từ đó cũng chùng xuống nặng trĩu tâm tư con người.

Nhà thơ muốn tìm hơi ấm con người nhưng bất lực “Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều”. Đâu là ở đâu? Không xác định. Âm thanh nghe mơ hồ quá, lại là âm thanh chợ chiều đã vãn thì lại càng nghe hiu hắt, buồn bã. Xưa Nguyễn Trãi cũng viết về  âm thanh ấy:

“Lao xao chợ cá làng ngư phủ
Dắng dỏi cầm ve lầu Tịch Dương”

Nhưng đấy lại là thanh âm của phiên chợ đông đúc của một cuộc sống no đủ, nhưng âm thanh trong thơ Huy Cận là âm thanh thoảng trong chiều gió xa xôi rồi biến mất. Vui nhất là âm thanh chợ đông, buồn nhất là âm thanh lúc chợ vãn. Nhà thơ nói “đâu tiếng” tức là âm thanh mơ hồ không xác định và chính âm thanh mơ hồ đó càng tô thêm vẻ hiu quạnh cho bức tranh thiên nhiên và cái hiu quạnh của hồn người.

Hai câu sau, không gian mở ra bát ngát, mang kích cỡ vũ trụ:

“Nắng xuống trời lên sâu chót vót
Sông dài trời rộng bến cô liêu”

Huy Cận đã vẽ nên một khung cảnh không gian ba chiều rộng lớn, “trời lên” là chiều cao, “sông dài” là chiều dài, “trời rộng” là chiều rộng, nhà thơ thì lại đứng giữa “bến cô liêu” – nơi giao nhau của vũ trụ. Vũ trụ thì bao la, vô tận. Con người thì bé nhỏ, hữu hạn. Nhà thơ nhìn lên bầu trời và thấy bầu trời “sâu chót vót”.

Cách dùng từ “sâu” độc đáo, nhà thơ không dùng “cao” mà dùng “sâu”. “Cao” chỉ tả được độ cao vật lý của bầu trời. Còn “sâu” không chỉ diễn tả được độ cao vật lý mà còn diễn tả được sự rợn ngợp trước không gian ấy. Đó chính là sự rợn ngợp trong tâm hồn thi nhân trước cái vô cùng của vũ trụ, nhà thơ gọi nơi mình đứng là “bến cô liêu” hay chính tâm hồn nhà thơ là “bến cô liêu” (hoang vắng, lẻ loi), đó là cách dùng từ tinh tế của thi nhân là vì nó diễn tả sự cô đơn tâm hồn, cách liên tưởng này giống với cách liên tưởng của Xuân Diệu: “Chiếc đảo hồn tôi rợn bốn bề” hay gợi nhớ bài thơ U Châu Đăng Đài Ca của nhà thơ Trần Tử Ngang:

“Tiền bất kiến cổ nhân
Hậu bất kiến lai giả
Niệm thiên địa chi du du
Độc thiên nhiên nhi thế hạ”

(Người trước chẳng thấy đâu
Người sau thì chưa tới
Ngẫm trời đất thật vô cùng
Riêng lòng đau mà lệ chảy)

Mỗi thi nhân tuy có một cách diễn đạt khác nhau nhưng đều giống nhau ở một điểm đó chính là nỗi cô đơn, nỗi buồn trước cái không cùng của vũ trụ. Nhưng không dừng lại ở đó, cái tôi cô đơn của thi nhân còn mênh mang rợn ngợp hơn nữa qua hai lần phủ định:

“Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng;
Mênh mông không một chuyến đò ngang.
Không cầu gợi chút niềm thân mật,
Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”.

Hình ảnh thơ gợi cho người đọc sự trống vắng đặc biệt là gợi lên nỗi buồn thấm thía với hình ảnh bèo dạt làm hiện lên kiếp đời bấp bênh trong xã hội cũ. Bèo dạt gắn liền với mây trôi, lớp người này lớp người kia nối đuôi nhau trong dòng chảy. Cảm giác cô đơn khiến nhà thơ muốn tìm sự kết nối, gần gũi và gắn bó nhưng không tìm thấy.

Hai câu thơ với hai lần phủ định “không đò”, “không cầu” – không có tín hiệu sự sống mà chỉ có cái mênh mông  của vũ trụ mà vũ trụ càng mênh mông thì con người càng nhỏ bé, chỉ là những bãi cát dài hút tầm mắt. Cảm giác cô đơn khiến nhà thơ muốn tìm đến một sự gần gũi, một sự kết nối. Phóng tầm mắt ra sông rộng thấy “Mênh mông không một chuyến đò ngang”; “Không cầu gợi chút niềm thân mật” để rồi  thấm thía một sự đơn độc trọn vẹn. Chỉ có con người đơn độc giữa không gian, thời gian vô thủy vô chung. Nhìn đâu cũng chỉ thấy “Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”.

Khổ cuối khép lại chất chứa niềm tâm sự sâu kín của thi nhân về tình yêu với quê hương xứ sở.

“Lớp lớp mây cao đùn núi bạc
Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa
Lòng quê dợn dợn vời con nước
Không khói, hoàng hôn cũng nhớ nhà”.

Cảnh tượng hùng vĩ và tráng lệ, phía cuối chân trời xa mây trắng đùn ra như những hòn núi bạc khổng lồ. Cảnh tượng hùng vĩ này khiến ta liên tưởng đến bài “Thu hứng” của Đỗ Phủ:

“Lưng trời sóng gợn lòng sông thẳm
Mặt đất mây đùn cửa ải xa”

Nhưng đối lập với cảnh hùng vĩ đó, ta lại bắt gặp một cánh chim chiều cô đơn “chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa” đang bị bóng chiều và sự vô cùng của vũ trụ nuốt trôi đi sự bé nhỏ của nó. Hình ảnh cánh chim nhỏ bé như đang chở nặng nỗi niềm thi nhân lạc lõng giữa bầu trời rộng thênh thang. Và lúc này đây nhà thơ không nhìn vào vũ trụ, bầu trời nữa mà nhìn vào lòng mình, thi nhân gọi lòng mình là “lòng quê”.

Chữ “vời” khiến ta liên tưởng tới tâm trạng Thúy Kiều “Bốn phương mây trắng một màu/ Trông vời cố quốc biết đâu là nhà”. Hai chữ “dợn dợn” là từ láy nguyên sáng tạo của Huy Cận diễn tả tâm trạng nôn nao, day dứt của lòng người đang “dợn” lên trong tâm hồn, đó là nỗi niềm nhớ quê hương khi đang đứng giữa quê hương nhưng quê hương mình không còn, đây là những tâm trạng chung của các nhà thơ mới nước ta. Mười thế kỷ trước, khi đứng trước dòng sông, Thôi Hiệu đã từng viết nên những câu thơ bất hủ:

“Nhật mộ hương quan hà xứ thị
Yên ba giang thượng sử nhân sầu”

(Quê hương khuất bóng hoàng hôn
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai)

Mười thế kỷ sau, Huy Cận đồng cảm nhưng khác nhau là Huy Cận không nhìn thấy khói cũng nhớ nhà. “Xưa kia nhà thơ Thôi Hiệu buồn vì cõi tiên mù mịt, quê nhà cách xa, khói sóng trên sông gợi cho tác giả thấy mờ mịt mà sầu. Nhưng nay Huy Cận buồn trước cảnh không gian hoang vắng, sóng “gợn tràng giang” khiến ông nhớ tới quê hương như một nguồn ấm áp và là tổ ấm hạnh phúc đối với ông. Thôi Hiệu tìm giấc mơ tiên chỉ thấy hư vô, đó là lòng khát khao một cõi quê hương thực tại còn Huy Cận một mình đối diện với khung cảnh vô tình, hoang vắng lòng ông lại muốn được trở về với quê hương là cái hương tâm (lòng quê)”

“Tràng giang” mang đậm phong vị cổ điển và hiện đại qua việc vận dụng nhuần nhuyễn thể thơ bảy chữ với cách ngắt nhịp, gieo vần, cấu trúc đăng đối; bút pháp tả cảnh ngụ tình, gợi hơn là tả … nhiều từ Hán Việt cổ kính còn tình cảm thi nhân mang màu sắc hiện đại. Có thể nói “Tràng giang đã tiếp nối mạch thi cảm truyền thống với sự cách tân đích thực”

Bài thơ Tràng giang” là một trong những bài thơ hay nhất trong tập thơ “Lửa thiêng”. Nó là ngọn lửa thiêng liêng, ngọn lửa vĩnh cửu toả sáng một hồn thơ đẹp. Thi sĩ đã chọn thể thơ thất ngôn với bốn khổ thơ, như một bức hoạ tứ bình tuyệt tác. Như Xuân Diệu đã từng nói: “Tràng giang là bài thơ ca hát non sông đất nước, do đó dọn đường cho lòng yêu Giang sơn Tổ quốc”. Đọc “Tràng giang” ta thêm yêu, thêm nhớ đất trời sông núi quê hương Việt Nam.


Tham khảo:

Phân tích bài thơ “Tràng giang” của Huy Cận.

Huy Cận (1919 – 2005) là một trong những cây bút tiêu biểu nhát của phong trào Thơ mới. Thơ Huy Cận hàm súc, giàu chất suy tưởng, triết lí, luôn thấm đẫm một nỗi buồn. Nó tất nhiên là cái điệu chung của thơ mới, song nỗi buồn trong thơ Huy Cận có sắc thái riêng. Bài thơ “Tràng giang” là thi phẩm xuát sắc của Huy Cận, in trong tập “Lửa thiêng” (1940).

Dễ nhận thấy thơ Huy Cận nhuốm đẫm nỗi buồn thời thế. Theo Hoài Thanh thì, đấy là “Cái buồn toả ra từ đáy hồn một người cơ hồ không biết đến ngoại cảnh”. Có lẽ vì thế, thơ Huy Cận thường khắc hoạ những cảnh tàn lụi, bơ vơ, hoang vắng, chia lìa, dường như nhà thơ “lượm lật những chút buồn rơi rác để rồi sáng tạo nên những vần thơ ảo não” (Hoài Thanh). Huy Cận còn “gọi dậy cái hồn buồn của Đông Á, người đã khơi lại cái mạch sầu mấy nghìn năm vẫn ngấm ngầm trong cõi đất này. Huy Cận triền miên trong cảnh xưa, trò chuyện với người xưa, luôn luôn đi về trên con đường thời gian vô tận” (Hoài Thanh). Huy Cận tỏ ra rất nhạy cảm với không gian rộng lớn và thời gian vĩnh hằng. Những điều ấy người đọc đều có thể nhận thấy biểu hiện rõ nét trong bài thơ “Tràng giang” từ nhan đề bài thơ đến câu thơ đề từ và hộ thống hình ảnh,… Tuy nhiên, trong “Tràng giang” nói riêng cũng như trong thơ Huy Cận trước Cách mạng nói chung, đúng như lời Xuân Diệu nhận xét trong Lời tựa cho tập Lửa thiêng:”Cảm giác nổi trội nhất của ta là một cảm giác không gian”.

Toàn bộ “Tràng giang” đều thấm đẫm một nỗi buồn. Mỗi khổ thơ thực chất là một sự triển khai khác nhau của nỗi buồn đó và thường được gợi lên bằng cách đối lập giữa cái mênh mông cao rộng như vô hạn với cái nhỏ bé, mong Ở bài thơ này, có lẽ Huy Cận không miêu tả cảnh vật theo một trật tự nhất định. Dường như tác giả không có ý định khắc hoạ một bức tranh đầy đủ, hài hoà qua các khổ thơ, mà tất cả chỉ nhằm tô đậm ở người đọc ấn tượng về nỗi buồn đìu hiu, xa vắng trải dài vô tận theo không gian và thời gian.

Bài thơ có bốn khổ, giống như bốn bài tứ tuyệt của Đường thi. Tuy cảnh yật ở mỗi khổ có khác nhau nhưng cả bốn khổ thơ đểu có chung một cấu tứ: mênh mang sóng nước và dợn dợn một nỗi buồn sầu. Ấn chứa bên trong cái thi tứ chung ấy là tâm trạng của chủ thể cảm xúc, đại diện cho cả một thế hệ thanh niên hồi ấy, luôn cảm thấy mình nhỏ bé, lạc lõng, bơ vơ giữa cái mênh mông, quạnh vắng của kiếp người. Một trong những màu sắc mang tính cổ điển của Tràng giang là ở đặc điểm này.

Khổ thơ đầu miêu tả bao quát khung cảnh sông nước tràng giang, nhưng thực chất nhằm gợi tả nỗi buồn về những thân phận lạc loài, phiêu dạt:

“Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp,
Con thuyền xuôi mái nước song song.
Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả
Củi một cành khô lạc mấy dòng”.

Ba câu thơ đầu mang đậm màu sắc cổ điển, vẽ ra hình ảnh con thuyền nhỏ nhoi lênh đênh trôi dạt trên dòng sông rộng lớn, mênh mông. Hai từ láy nguyên “điệp điệp”, “song song” ở cuối hai câu đầu mang đậm sắc thái cổ kính của Đường thi. Nó đầy sức gợi hình, gợi liên tưởng về những con sóng cứ loang ra, lan xa, gối lên nhau, miên man, miên man đến tận nơi nào. Không chỉ vậy, bằng phép đối giữa câu trên “buồn điệp điệp” với câu dưới “nước song song”, nhà thơ còn ngầm so sánh nỗi buồn của mình cũng trùng trùng, điệp điệp, triền miên, vô tận như những con sóng. Sóng gợn như thể nỗi buồn điệp điệp…, nhưng nhờ sự thiếu vắng từ so sánh khiến cho ý nghĩa của câu thơ có vẻ trừu tượng hơn, tạo ra được sự mờ nhoè cần thiết, và do vậy, cũng khơi gợi được sự liên tưởng đa phương, đa chiều trong lòng người đọc.

Trên dòng sông gợn sóng “điệp điệp”, “song song” ấy là một “con thuyền xuôi mái”, con thuyền không người lái, buông xuôi, buông trôi mặc cho sự đẩy đưa vô định của dòng nước, như thể những kiếp người tha phương lạc loài, phó mặc cho sự nổi trôi của số phận. Vậy mà thuyền với nước cũng chẳng thể hoà nhập được với nhau, chỉ song song với nhau chứ không có sự hoà hợp, đồng cảm hay một mối dây liên hệ nào. Thuyền buông xuôi, buông trôi với dòng mà lại phải chia li với dòng, bởi nước cũng đang có nỗi sầu riêng của nước, thậm chí có cả trăm ngả sầu, nên thuyền vê cũng chẳng thể làm cho nước vui hơn mà chỉ càng thêm sầu, thêm tủi. Câu cuối: “Củi một cành khô lạc mấy dòng” khép lại cả đoạn thơ, nhưng hình ảnh một cành củi khô mục nát, rơi gãy, lạc mấy dòng lại gợi mở những liên tưởng mạnh mẽ về thân phận của những kiếp người bị bỏ rơi, lạc lõng, bơ vơ giữa mấy dòng đời vô định. Đúng như nhận xét của Hoài Thanh trong cuốn “Thi nhân Việt Nam” từ hơn nửa thế kỉ trước: “Cái tôi cô đơn, tội nghiệp của các nhà Thơ mới dường như đã tìm thấy sự tương hợp tuyệt diệu trong cành củi khô lạc loài của Huy Cận”.

Ở câu thứ ba, thuyền và nước vốn đi liền với nhau, thuyền trôi đi cùng với dòng nước, nước đẩy thuyền trôi theo; thế mà ở đây Huy Cận lại thấy thuyền và nước đang chia lìa, xa cách “thuyền vê”, “nước lại”. Cảnh gợi ra sự cô đơn, xa vắng, chia lìa. Chính vì thế mà gợi ra trong lòng người nỗi “sầu trăm ngả”. Trăm ngả nước là trăm ngả sầu. Nỗi “buồn” tăng cấp thành nỗi “sầu” chất chứa, chẳng thể vơi được. Câu thơ cuối khổ thơ mang nét hiện đại với một hình ảnh rất đời thường: một cành củi khô trôi dạt giữa “mấy dòng” nước. Phép đảo đưa hình ảnh “củi”, một sự vật bé nhỏ, tầm thường lên đầu câu làm nổi bật cái nhỏ nhoi của nó; và phép đối giữa “một” cành củi khô với “mấy” dòng nước càng nhấn mạnh hơn sự nhỏ nhoi, cô độc đến tội nghiệp của “cành củi khô” với dòng sông mênh mông vô tận. Hình ảnh này gợi liên tưởng đến kiếp người nhỏ bé, bơ vơ giữa dòng đời bất tận.

Tham Khảo Thêm:  Cảm nhận bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng

Cả khổ thơ đầu, bằng sự kết hợp hài hòa giữa sắc thái cổ điển và hiện đại, nghệ thuật đảo, đối và hệ thống từ ngữ giàu giá trị biểu cảm đã khắc họa bức tranh thiên nhiên tràng giang rộng lớn vô tận, gợi cảm giác buồn, cô đơn, xa vắng, chia lìa và thân phận của những kiếp người nhỏ bé, trôi nổi giữa dòng đời.

Khổ thơ thứ hai vẫn tiếp tục mạch cảm xúc ở khổ thơ đầu nhưng nhấn mạnh về một không gian mênh mang hoang vắng, cô liêu, qua đó gợi tả nỗi buồn vê’ một sự sống tàn tạ, bị bỏ quên:

Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu,
Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều.
Nắng xuống, trời lên sâu chót vót,
Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.

Hai từ láy “lơ thơ” và “đìu hiu” được tác giả khéo sắp xếp trên cùng một dòng thơ đã vẽ nên một quang cảnh vắng lặng. “Lơ thơ” gợi sự ít ỏi, nhỏ bé, thưa thớt, còn “đìu hiu” lại gợi sự quạnh quẽ. Khung cảnh một dòng tràng giang mênh mang được diễn tả bằng những câu thơ thật đặc sắc: “Lơ thơ cổn nhỏ, gió đìu hiu”… Cồn là một doi cát nhỏ nổi lên ở giữa dòng sông, bị bao bọc bởi bốn bê’ mênh mang sóng nước nên hình ảnh đó cũng tượng trứng cho một thế giới bị cô lập, phong toả, đóng kín. Cách dùng đảo ngữ: đặt tính từ miêu tả lơ thơ lên trước sự vật khiến cho câu thơ tăng cường thêm tính chất tạo hình, hình ảnh thơ trở nên nổi bật hơn. Giữa cái không gian sông nước mêng mang đó, những gì hiện hình đều quá nhỏ bé, thưa thớt, không đáng kể so với cái mênh mông, rợn ngợp của đất trời. Cổn đã nhỏ lại chỉ lơ thơ trong gió lạnh đìu hiu nên dễ gợi ra vẻ hiu hắt, quạnh vắng như bị cuộc sống bỏ quên. Huy Cận nói ông đã học được hai chữ đìu hiu trong những câu thơ đầy gợi cảm của bà Đoàn Thị Điểm trong bản dịch Chinh phụ ngâm:

Non Kì quạnh quẽ trăng treo
Bến Phì gió thổi đìu hiu mấy gò
Hồn tử sĩ gió ù ù thổi
Mặt chinh phu trăng dõi dõi soi…

Đây là những câu thơ miêu tả khung cảnh một chiến địa sông nước hoang phế sau trận Xích Bích nổi tiếng trong Tam Quốc diễn nghĩa, do vậy, chữ đìu hiu của Huy Cận trong bài Tràng giang cũng dễ gợi lên trong lòng người đọc những cảm giác thê lương, rợn ngợp. Tất cả gợi ra khung cảnh lạnh lẽo, tiêu điều, hoang vắng. Giữa khung cảnh ấy có lẽ con người càng trở nên đơn côi, rợn ngợp, đến độ thốt lên “Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều”. Chỉ một câu thơ mà mang nhiều sắc thái: vừa gợi “đâu đó”, âm thanh xa xôi, không rõ rệt; vừa có thể là câu hỏi “đâu đó” như một nỗi niềm khao khát, mong mỏi của nhà thơ về một chút sự hoạt động, âm thanh sự sống của con người; lại cũng có thể là “đâu có..một sự phủ định hoàn toàn, chung quanh đây chẳng hê’ có chút gì sống động để xua bớt cái tịch liêu của thiên nhiên. Dù hiểu theo cách nào thì cũng vẫn là quang cảnh vắng lặng, hắt hiu.

Ở câu 3 và 4, thiên nhiên càng mở rộng ra cả bốn chiểu: cao, sâu, dài, rộng. “Nắng xuống, trời lên” gợi sự chuyển động, mở rộng về không gian, và gợi cả sự chia lìa, bởi dường như đất và trời ngày càng xa nhau hơn. Không gian trở nên “sâu chót vót”. Đây là cách diễn đạt mới mẻ, đầy sáng tạo của Huy Cận, nó mang nét đẹp hiện đại. Đôi mắt của nhà thơ không dừng lại ở bên ngoài của trời mây, nắng, mà như xuyên thấu vào đáy vũ trụ thăm thẳm, bao la, vô tận. Bởi câu thơ này đã dựa trên một quan sát thực tế kết hợp với sử dụng ấn tượng và cảm giác: khi mặt trời lên cao, ánh nắng chiếu rọi xuống dòng tràng giang mênh mang, vắng lặng thì nhìn xuống lòng sông, có thể thẩỵ được toàn bộ cả bầu trời trong xanh cao chót vót, vì vậy mà có cảm giác lòng sông sâu chót vót. Cách kết hợp từ như thế quả là táo bạo nhưng lại đạt hiệu quả nghệ thuật, gợi được sự liên tưởng đa chiều trên cùng một trục không gian: xuống và lên, sâu và cao. Nó vừa diễn tả được độ sâu thăm thẳm của dòng sông, lại vừa gợi ra được chiều cao chót vót của bầu trời. Hai chiều sâu và cao ấy lại được kết hợp với câu thơ tả về chiều dài và chiều rộng (“sông dài, trời rộng”) đã tạo ra một không gian nhiều chiều, trải rộng và mở mãi ra về phía vô cùng, vô tận. Và trong cái khung cảnh không gian mênh mang, thăm thẳm, hoang vắng cô liêu ấy, các sự vật dường như cũng không có sự giao hoà gặp gỡ, không có chút liên hệ cảm thông nào: nắng xuống thì trời lên, sâu lại hoá thành cao, sông dài liền với trời rộng…

Với những nét vẽ mới: “cồn nhỏ”, “gió đìu hiu”, “làng xa”, “trời sâu chót vót”, “bến cô liêu”, bức tranh tràng giang không những không sống động hơn, mà càng chìm sầu vào tĩnh lặng, cô đơn, hiu quạnh. Cả khổ thơ gợi tả một không gian đa chiều mang màu sắc tâm trạng độc đáo: Đó là một vũ trụ bao la, hùng vĩ nhưng thiếu vắng sự sống, là một bức tranh thiên nhiên mà màu sắc chủ đạo là cảm giác rợn ngợp, cô liêu bởi trong đó thiếu vắng những niềm giao cảm ấm áp, gần gũi của cuộc đời.

Khổ thơ thứ ba tiếp tục hoàn thành bức tranh tràng giang với những nét vẽ khác Khổ thơ thứ ba nhấn mạnh cảm xúc về sự hờ hững, mất hết liên hệ giữa các sự vật, qua đó bộc lộ nỗi khát khao những tâm hồn đồng điệu trong cuộc đời:

Bèo dạt vê đâu, hàng nối hàng;
Mênh mông không một chuyến đò ngang.
Không cầu gợi chút niêm thân mật,
Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.

Hình ảnh cánh bèo trôi bổng bềnh trên sông là hình ảnh thường dùng trong thơ cổ điển, nó gợi lên sự bấp bênh, nổi trôi của kiếp người vô định giữa dòng đời. Nhưng trong thơ Huy Cận không phải là một cánh bèo, mà là “hàng nối hàng”. Bèo trôi hàng hàng càng gợi ra sự rợn ngợp trước thiên nhiên, cõi lòng như càng đau đớn, cô đơn. Giữa không gian tràng giang mênh mông đó không hể có con người, không có chút sinh hoạt của con người, không có sự giao hòa, nối kết: “Không một chuyến đò ngang”, “không cầu” để nối hai bờ sông rộng lớn, hoang vắng, thê lương. Cấu trúc phủ định “không… không.. phủ định hoàn toàn những kết nối của con người. Cầu hay chuyến đò ngang, phương tiện giao kết của con người dường như đã bị cõi thiên nhiên nhấn chìm, trôi đi tận nơi nào. Không có gì kéo con người ra khỏi nỗi cô đơn đang bao trùm, vẫn chỉ có dòng tràng giang rộng lớn mênh mông. Bên cạnh “hàng nối hàng” của cánh bèo là “bờ xanh tiếp bãi vàng”. “Bờ xanh” “lặng lẽ” tiếp với “bãi vàng”, thiên nhiên nối tiếp thiên nhiên, không gian càng bao la, vô cùng vô tận. Cảnh có thêm màu sắc nhưng chỉ càng buồn hơn, chia lìa hơn.

Xuân Diệu từng có ý thơ rất hay nói vê’ nỗi cô đơn của kiếp người trong xã hội cũ: ngay cả những lứa đôi mà dường như cũng không thể tìm thấy sự đổng điệu bởi mỗi con người vẫn là một thế giới riêng, là một vũ trụ bí mật khó có thể hoà nhập và đổng cảm:

Em là em, anh vẫn cứ là anh.
Có thể nào qua Vạn Lí Trường Thành
Của hai vũ trụ chứa đầy bí mật.

(Xa cách)

Trong bài thơ “Tràng giang” của Huy Cận, các sự vật cũng vậy, tuy luôn ở bên nhau nhưng vẫn không có ý tìm đến với nhau, không có sự giao cảm giao hoà. Khung cảnh thiên nhiên ấy gợi lên niềm khao khát của một con người không tìm thấy được những tâm hồn đồng điệu trong cuộc đời, trong một thế giới mà nỗi buồn về thân phận cô đơn đã trở thành mối sầu vạn kỉ của kiếp người.

Khổ thơ cuối cùng miêu tả khung cảnh một chiều thu trên sông và tầm trạng buồn nhớ quê hương của con người, một kiểu tâm trạng và thi hứng rất điển hình của thơ cổ điển, nhưng đặt trong mạch cảm xúc và tâm trạng chung thì khổ thơ như thể dồn tụ ý tưởng của cả bài:

Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,
Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiêu sa.
Lòng quê dợn dợn vời con nước,
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.

Hai câu thơ đầu là bức tranh phong cảnh kì vĩ, nên thơ. Cảnh được gợi lên bởi bút pháp nghệ thuật cổ điển với hình ảnh mây trắng, cánh chim chiều. “Mây cao” chồng chất tầng tầng “lớp lớp”, đang “đùn” thành “núi bạc”. Những núi mây trắng được ánh nắng chiếu vào như dát bạc, hình ảnh thơ mang nét đẹp cổ điển, vừa kì vĩ, tráng lệ, vừa nên thơ. Có lẽ, câu thơ được khơi nguồn cảm hứng từ một tứ thơ Đường của Đỗ Phủ: “Mặt đất mây đùn cửa ải xa”. Huy Cận đã vận dụng tài tình động từ “đùn”, khiến mây như chuyển động, có nội lực từ bên trong, từng lớp, từng lớp mây cứ đùn ra mãi. Giữa khung cảnh rộng lớn, tráng lệ ấy xuất hiện một cánh chim chiều – hình ảnh quen thuộc trong thơ cổ, thường để báo hiệu thời gian chiều tối. Tuy nhiên, trong câu thơ của Huy Cận, nó không chỉ là báo hiệu thời gian, mà còn gợi ra không gian bao la vô cùng, vô tận bởi hình ảnh cánh chim nhỏ được đặt trong sự tương phản với không gian mây cao, núi bạc. Hình ảnh cánh chim nghiêng lệch chở nặng ráng chiều càng gợi ra hình ảnh thi nhân cảm thấy mình bé nhỏ, cô đơn, bất lực trước thời cuộc. Nét tâm trạng này dọc theo toàn bài thơ, không phải chỉ riêng của Huy Cận, mà nó là tâm trạng chung, là “nỗi buồn thế hệ” của các nhà Thơ mới.

Nước mất nhà tan, nhân dân nô lệ, chưa đủ niềm tin vào con đường cách mạng, các nhà Thơ mới tìm cách thoát li thực tại, mỗi người một cách khác nhau: Thế Lữ thoát “lên tiên”, Lưu Trọng Lư “phiêu lưu trong trường tình” Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử “điên cuồng” trong thế giới ma quái, kì dị… Huy Cận ảo não tìm vào cái vắng lặng, mênh mông, vô tận của vũ trụ để quên đi thực tại đáng buồn.

Tâm trạng của nhà thơ bộc lộ rõ nét hơn trong hai câu cuối. “Dợn dợn” là từ láy nguyên rất sáng tạo của Huy Cận. Từ láy này đi cùng với cụm từ “vời con nước” cho thấy một nỗi niềm bâng khuâng, cô đơn của “lòng quê”. Nỗi niềm đó là nỗi niềm nhớ quê hương. Đó là nỗi niềm của một người con mất nước: nhớ quê hương ngay khi đang đứng giữa quê hương, khi quê hương đã không còn. Đây cũng là tâm trạng chung của các nhà Thơ mới lúc bấy giờ.

Câu thơ cuối được gợi từ câu thơ cổ của Thôi Hiệu trong bài thơ Lẩu Hoàng Hạc (Hoàng Hạc lâu):

Quê hương khuất bóng hoàng hôn
Trên sống khói sóng cho buồn lòng ai.

Xưa, Thôi Hiệu nhìn khói sóng thì buồn, nhớ quê nhà, còn nay, Huy Cận không cần tác động của ngoại cảnh mà vẫn “nhớ nhà”. Cái tâm trạng chạnh buồn nhớ quê của người khách tha hương xưa là do ngoại cảnh, còn nỗi buồn da diết của thi nhân hôm nay là nỗi buồn tâm cảnh, nỗi buồn nhớ vốn đã chất chứa sẵn tự cõi lòng nên đâu phải cần đến khói hoàng hôn để mà gợi nhớ! Cho nên, mặc dù đang sống giữa quê hương mình, đang ngắm nhìn cảnh trời nước mênh mang của đất nước trong buổi chiểu thu mà lòng người thì vẫn bồi hồi, da diết một nỗi buồn nhớ quê nhà. Ấy là cái tâm trạng và nỗi lòng của kẻ thiếu quê hương, cũng là cái tâm trạng và nỗi lòng của cả một thế hệ thanh niên trước cách mạng “bơ vơ như những đứa con bị lạc mất mẹ” (Hoài Thanh), nên nay đứng trước cảnh tràng giang dợn dợn thấy lòng mình càng thêm sầu tủi da diết.

Trong “Thi nhân Việt Nam”, Hoài Thanh gọi nỗi buồn nhớ trong “Tràng giang” là một nỗi buồn được “toả ra từ hồn một người cơ hồ không biết đến ngoại cảnh. Có người muốn làm thơ phải tìm những cảnh nên thơ. Huy Cận không thế. Nguồn thơ đã sẵn trong lòng đời thi nhân nên không cần có nhiều chuyện…”. Sở dĩ như vậy vì xét đến cùng, nỗi buồn của Tràng giang, cái tâm trạng nặng buồn sông núi tạo nên điểm nhìn nghệ thuật của Huy Cận trong toàn bài thơ thật ra đều được bắt nguồn từ một nguyên nhân rất sâu xa là nỗi buồn thời đại: nỗi buồn về thân phận con người trong cảnh ngộ đất nước lầm than. Thế mới biết tấm lòng yêu quê hương tha thiết của nhà thơ, mới hiểu được “Tràng giang là bài thơ “dọn đường cho lòng yêu giang sơn Tổ quốc” (Xuân Diệu).


Tham khảo:

Phân tích bài thơ “Tràng giang” của Huy Cận

Trên ý nghĩa, “Tràng giang” là một con sông dài, nhưng Huy Cận lại muốn cảm nhận đó là một dòng sông rộng. Và như thế rõ ràng có lý, có căn cứ bởi cảm giác về dòng sông nếu không được làm nên bởi ấn tượng của thanh âm, bởi cả hai chữ của tựa đề “tràng”“giang” đều được cấu tạo bởi một nguyên âm rộng nhất trong các nguyên âm. Bên ấn tượng về chiều rộng được nói đến ở tựa đề bài thơ thì ấn tượng ấy còn có ở cả câu đề từ:

“Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài”.

Chiều cao của bức tranh là khoảng cách giữa trời rộng với sông dài, làm nên đầy đủ, trọn vẹn ba chiều của không gian. Điều ấy rất sớm giới thiệu với người đọc về Huy Cận, một nhà thơ của cảm hứng không gian. Và trong không gian mênh mang ấy, nhà thơ đã thả vào một nỗi buồn nhớ nhẹ nhàng, man mác mà chúng ta có thể thấy được qua những từ “nhớ” “bâng khuâng” mà nhà thơ đặt ngay ở đầu câu.

“Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp
Con thuyền xuôi mái nước song song,
Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả
Củi một cành khô lạc mấy dòng”.

Bài thơ mở đầu bằng một hình ảnh rất thích hợp với thi đề – “sóng“. Sóng trên dải “tràng giang” của Huy Cận không phải là sóng xô, sóng vỗ hay “sóng vọt đến lưng trời” như trong thơ Đỗ Phủ mà chỉ là “sóng gợn”. Một chuyển động nhẹ nhàng để gợi ra hình ảnh của một dòng tràng giang tĩnh lặng. Nhà thơ tìm ra cái tĩnh trong cái tưởng như rất động, thể hiện một hồn thơ hay thiên về cái tĩnh. Con sóng gợn trong con mắt đầy xúc động của thi nhân dường như cứ lan toả đến vô cùng. Vì vậy, ngay từ câu thơ đầu tiên, nhà thơ đã chứng tỏ mình đi theo một phong cách thơ khác nhiều lắm so với phong cách thơ cổ điển, đó là sự xuất hiện chữ “buồn” ngay ở đầu bài: “buồn điệp điệp”. Nỗi buồn mang hình ảnh của sóng gợn, mượn hình ảnh của sóng để hiện ra trước con người. Như thế, “Tràng giang” rất sớm trở thành một dòng sông tâm trạng, vừa là hình ảnh của ngoại giới, lại vừa là hình ảnh của tâm giới.

Trên bức tranh sông nước ấy đã hiện lên hình ảnh một con thuyền, một con thuyền không chèo “xuôi mái”, hình ảnh tĩnh trên một dòng sông tĩnh. Mái chèo buông xuôi dọc bên thân thuyền, để lại hai vệt nước mà nhà thơ gọi là “song song”. Hai chữ này đã hoà ứng với hai chữ “điệp điệp” ở cuối câu thứ nhất như để gợi thêm ra cảm giác về một nỗi buồn vô tận.

Bức tranh thiên nhiên mở ra theo cả hai chiều, “điệp điệp” gợi ra không gian theo chiều rộng, còn “song song” lại làm nên cảm giác về chiều dài. Nhưng đến câu thơ thứ ba: “Thuyền về nước lại sầu trăm ngả” thì hình ảnh nước và thuyền quay trở lại, nhưng không phải thuyền trôi trên dòng nước mà là “thuyền về, nước lại”. Mỗi sự vật đi kèm với một động từ, tạo nên cảm giác về sự chuyển động trái chiều. Ta cảm tưởng rằng thuyền về, con nước lại và một khoảng trống sẽ được mở ra, một khoảng trống về một mối sầu lan toả, không chỉ được mở ra trên hai chiều trái ngược nhau mà là mọi chiều trong không gian “sầu trăm ngả”. Nhà thơ viết “trăm ngả” dường như khiến người đọc cảm nhận mối sầu ấy không có chỗ tận cùng, và nỗi buồn lại càng mênh mang hơn nữa.

Tham Khảo Thêm:  Suy nghĩ về ý chí và nghị lực của những con người không chịu thua số phận trong cuộc sống.

Tuy nhiên, không có câu thơ nào trong khổ này lại khiến Huy Cận phải trăn trở nhiều hơn, tâm đắc nhiều hơn là câu thơ thứ tư :

“Củi một cành khô lạc mấy dòng”.

Điều rất lạ là câu thơ tâm huyết này của Huy Cận lại bắt đầu bằng một chữ tưởng như không hàm chứa một lượng thơ ca nào, chữ “củi”. Chữ ấy lại được nhà thơ nhấn mạnh qua một phép đảo từ “củi một cành khô”. Nhưng phải là chữ “củi” và phải là phép đảo từ thì nhà thơ mới có thể nói ra tận cùng một quan niệm, một triết lý nhân sinh. Chữ ấy hay không chỉ vì nó đem lại cho thơ cái chất mà Xuân Diệu gọi là “hiện thực sống sít”, làm nên một trong những phong cách thơ mới. Hình ảnh “củi” không chỉ nói về một thanh gỗ đã chết mà còn thực sự toát lên vẻ tầm thường. Nhưng đó lại là hình ảnh khó có gì thích hợp hơn để nhà thơ biểu hiện cảm quan của mình về sự nhỏ nhoi, vô nghĩa, đơn côi của sự sống một kiếp người trước vũ trụ, thiên nhiên vô tận. Ý nghĩa ấy dường như thấm vào trong từng chữ một của dòng thơ. Chữ “một” gợi lên số ít, chữ “cành” làm nên cảm giác nhỏ bé. Và như thế, con người dường như đang lạc lối, bơ vơ , ngơ ngác trước những dòng nước của con sông lớn ở trong hiện thực, cũng là trước con sông của nỗi buồn ở lòng người. Nỗi buồn về sự nhỏ nhoi, cô đơn của một kiếp người, khác hoàn toàn với nỗi buồn của Xuân Diệu trong “Đây mùa thu tới”.

Đến khổ thơ thứ hai thì không gian đã không còn chỉ giới hạn trong phạm vi một mặt sông:

“Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu,
Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều.
Nắng xuống, trời lên, sâu chót vót,
Sông dài, trời rộng, bến cô liêu”.

Bức tranh “Tràng giang” giờ đây đã có thêm hình ảnh những chiếc “cồn” của những làng xóm ở bên sông. Vì thế hai câu thơ đầu phảng phất cảm giác man mác, nhẹ nhàng mà sâu kín về một quê hương. Huy Cận đã vô tình phác ra một cảnh sắc rất quen thuộc về một miền quê nước Việt: bờ sông hoặc giữa lòng sông có những cồn đất nhỏ, xa xa ven sông có những âm thanh xao xác của một xóm làng. Nhưng đó không phải là tất cả ý nghĩa của câu thơ. Không thể không chú ý rằng Huy Cận muốn những chiếc cồn trong thơ phải là “cồn nhỏ” và phải thưa thớt, lơ thơ. Cồn phải vậy để mặt sông càng trở nên rộng lớn. Gió thì “đìu hiu” càng làm cho dòng tràng giang thêm tĩnh lặng. Và Huy Cận cũng đã từng nói hai chữ “đìu hiu” ấy đã được mượn trong hai chữ của “Chinh phụ ngâm”:

“Non Kỳ quạnh quẽ trăng treo
Bến Phì gió thổi đìu hiu mấy gò”.

Một ngọn gió thổi đìu hiu ở nơi đã từng là bãi chiến trường đẫm máu, mối liên tưởng ấy làm ngọn gió trên sông của nhà thơ lại càng thêm buồn bã, hắt hiu. Câu thơ thứ ba đã vẳng lên âm thanh của sự sống, nhưng âm thanh ấy cũng nhỏ nhoi, yếu ớt, cô quạnh:

“Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều”.

Cảm giác ấy dường như thấm vào từng chữ một trong câu. Câu thơ làm gợi nhớ đến một “phiên chợ chiều” đã “vãn” của một “làng xa”. Cảm giác đến với nhà thơ và người đọc thơ thông qua một giác quan mơ hồ – thính giác, mà không phải qua hình ảnh. Sự mơ hồ ấy lại được nhân lên qua chữ “đâu” ở đầu câu, càng khiến cho âm thanh ấy như có như không, như hư như thực. Nhưng thực nhất vẫn chỉ là sự im lặng bao trùm lên dòng chảy tràng giang.

Đến câu thơ thứ ba thì không gian được mở ra theo một chiều khác, chiều cao qua hình ảnh của nắng và bầu trời:

“Nắng xuống, trời lên, sâu chót vót”.

Hai hình ảnh ấy cũng được đặt trong những chuyển động trái chiều – “lên” và “xuống”, trong cảm giác về một sự chia rẽ. Nắng xuống và trời lên, để lại một khoảng trống thăm thẳm mở ra, làm nên cảm giác mà Huy Cận đã diễn tả bằng một sự kết hợp từ độc đáo: “sâu chót vót”. “Sâu chót vót” chứ không phải “sâu thăm thẳm” Cụm từ này tạo cảm giác thăm thẳm về bầu trời và mặt nước. Không chỉ thế, phải có chữ “sâu” để không gian được nhuộm trong gam màu, gam cảm xúc buồn, trầm lắng.

Và khổ thơ thứ hai của bài thơ được khép lại trong một câu thơ gần nhất với câu đề từ khi ở đây lại xuất hiện hình ảnh của “sông dài, trời rộng”:

“Sông dài, trời rộng, bến cô liêu”.

Nhưng bên cạnh hình ảnh ấy, Huy Cận đã đặt bên cạnh một hình ảnh “bến cô liêu”. Bến ấy cũng đại diện cho con người, cho sự sống vì sông sẽ không có nơi nào là bến nếu không có sinh hoạt của con người nơi bến ấy. Vì vậy hình ảnh “bến cô liêu” với âm hưởng man mác của hai chữ “cô liêu” ấy, một lần nữa lại gợi ra một nỗi buồn nhân thế, nỗi buồn về sự sống quá nhỏ nhoi, rất hữu hạn trong thiên nhiên, mà vụ trụ thì cứ mở ra mãi đến vô tận, vô cùng.

Chúng ta bắt gặp một sự biến chuyển ở đầu khổ ba :

“Bèo dạt về đâu hàng nối hàng,
Mênh mông không một chuyến đò ngang.
Không cầu gợi chút niềm thân mật,
Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”.

Hình như có cái gì đông đúc hơn lên, sự chuyển động dường như cũng đã nhanh hơn, mạnh mẽ hơn. Chúng ta nhận ra điều ấy qua từ “dạt” ngay ở câu thơ đầu tiên. Cảm giác đông đúc cũng thể hiện khá rõ trong ba chữ “hàng nối hàng”. Nhưng sự đông đúc ở đây lại chỉ là của những cánh bèo, hình ảnh từ lâu đã tượng trưng cho những kiếp phù sinh, cho cuộc sống không ý nghĩa. Hình ảnh “bèo dạt” ấy cũng đã từ lâu dùng để nói về số phận của những kiếp người không có khả năng tự làm chủ cuộc đời mình. Và cảm giác vô định ấy được Huy Cận nhấn thêm một lần nữa bằng hai chữ “về đâu”. Nhưng câu thơ thứ nhất không chỉ là hình ảnh của những kiếp người vô định mà từng hàng bèo trôi dạt ấy dường như còn để tăng thêm cảm giác trống không ở những câu sau. Bởi người đọc sẽ có cảm tưởng khi bèo đã dạt hết rồi, nhìn lại mặt tràng giang, con người sẽ cảm thấy hoàn toàn trơ trọi với những chữ “không” nối tiếp nhau cứ dội lên mãi trong câu thứ hai và thứ ba :

“Mênh mông không một chuyến đò ngang.
Không cầu gợi chút niềm thân mật”.

Chữ “không đò” được hiệp âm với chữ “mênh mông” ở trước, chữ “không cầu” lại được láy âm với câu trên, đặt ở ngay đầu câu, khiến cho cảm giác trơ trọi thể hiện rõ nhất ở khổ thứ ba này. Không có con đò đậu. không có cả một chiếc cầu tĩnh lặng, vô tri. Không có cả một chút bóng dáng con người mà thông thường người ta có thể mường tượng ra qua hình ảnh con đò.Như vậy hình ảnh “đò” được đặt trước vì động hơn. Nhưng đến chữ “chút niềm thân mật” thì hình ảnh con đò và cây cầu không chỉ là những hình ảnh thực mà còn là cảm giác về cuộc đời vắng tình người. Cuộc đời quá mênh mông, một chút niềm thân mật để nối hai bờ cũng không thể nào tìm ra, dù “thân mật” đã là mức độ tình cảm thấp nhất trong những mức độ tình cảm.

Và cảm giác của nhà thơ lại trở về với chiều dài và chiều rộng trong câu đề từ, khi nhà thơ viết câu thơ cuối :

“Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”.

Cảm giác về “không” gặp lại ở “lặng lẽ“, không hình, không cả tiếng. Câu thơ gợi cho người đọc cảm nhận về dòng chảy qua hết bờ xanh lại đến bãi vàng, nhưng tuyệt đối âm thầm. Chúng ta lại nhận ra thêm ở đây một “nỗi buồn thiên cổ”:

“Lớp lớp mây cao đùn núi bạc.
Chim nghiêng cánh nhỏ óng chiều sa.
Lòng quê dợn dợn vời con nước,
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”.

Có thể nói rằng đây là khổ thơ duy nhất mà mỗi câu thơ đều gợi ra liên tưởng về một câu thơ Đường. Cũng không có khổ thơ nào trong “Tràng giang” lại vẽ ra trước mắt người đọc hình ảnh trời chiều trên sông nước rõ ràng và gợi cảm như ở khổ bốn này.

Câu thơ thứ nhất đem đến cho ta cảm giác của một thiên nhiên vừa quen thuộc lại vừa lớn lao, kì vĩ: “Lớp lớp mây cao đùn núi bạc”. Chỉ bảy chữ thôi mà câu thơ đã mở ra trước mắt người đọc một bức tranh mà ở đó những làn mây dường như được đùn, đẩy từ nơi mà bầu trời tiếp liền cùng mặt nước, cứ chất ngất mãi lên phía của trời cao thành hình giống như ngọn núi, nhưng lại là “núi bạc”. Những đám mây kia đang phản quang những tia nắng của trời chiều, nhờ vậy mà ánh lên, loá lên, hình thành một khoảng không gian lớn rộng, gợi nên cảm giác trong sáng hiếm có ở bài thơ.

Vẫn nhìn lên bầu trời ấy, ở hai câu tiếp theo, nhà thơ điểm lên bức tranh bầu trời trên dòng tràng giang hình ảnh một cánh chim, một hình ảnh rất đặc trưng cho buổi chiều tà: “Chim nghiêng cánh nhỏ : bóng chiều sa”. Song cánh chim chiều trong thơ Huy Cận không bình thản như thế thì nhà thơ nói đến “chim nghiêng cánh nhỏ”. Chi tiết ấy đủ làm người đọc nhận ra bóng chiều đang buông xuống. Bóng chiều vốn vô hình dường như giờ đây có thể được nhìn thấy như trong cảm giác về một vật thể hữu hình. Nhà thơ đã hữu hình hoá cái vô hình. Và như vậy chỉ bằng hai câu mà nhà thơ đem lại cho người đọc những xúc cảm thân thương, quen thuộc của quê hương, đất nước, để rồi từ cảnh quê trong hai câu đầu mà nói đến tình quê, đến nỗi nhớ quê nhà trong hai câu thơ cuối. Nỗi nhớ mênh mông như là những làn sóng đang dợn trên mặt sông và trải ra theo con nước về phía xa vời:

“Lòng quê dợn dợn vời con nước”

Chữ “vời” được hiểu theo nghĩa là trông mãi về phía xa. Vì vậy ở câu thơ thứ ba này, nhà thơ đang nhìn mãi ra xa, tấm lòng cũng cứ lan theo mặt nước ra xa, và cũng rung rinh theo dòng nước như thế.Câu thơ đã mượn hình ảnh sóng nước tràng giang mà nói về nỗi nhớ. Nỗi nhớ ấy sâu nặng, thường trực trong lòng nhân vật trữ tình mà không cần được gợi ra bằng một làn khói hoàng hôn nào như trong thơ Thôi Hiệu:

“Yên giang ba thượng sử nhân sầu”

(Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai )

Và như thế, nỗi nhớ, tình cảm quê hương cứ lai láng chảy trên khắp bề mặt của khổ thơ cuối cùng. Không chỉ vậy, người đọc còn có thể nhận ra khổ thơ thứ tư là khổ duy nhất mà mỗi câu thơ đều gợi về một tứ Đường thi quen thuộc. Chính Huy Cận nhận rằng chữ “đùn” của câu thơ thứ nhất là ông học từ bản dịch “Thu hứng” của Đỗ Phủ:

“Mặt đất mây đùn cửa ải xa”.

Cánh chim ấy không khỏi làm cho những người yêu thơ nhớ đến một câu thơ của Vương Bột :

“Lạc hà dữ cô lộ tề phi
Thu thủy cộng trường thiên nhất sắc”.

(Ráng chiều đang sa xuống với con cò lẻ loi cùng bay).

Và hai câu thơ cuối cùng không khỏi làm người đọc nghĩ đến hai câu trong “Hoàng Hạc Lâu” (Thôi Hiệu)

“Quê hương khuất bóng hoàng hôn
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai”.

Điều đó có nghĩa là đến khổ thơ cuối cùng này, nỗi buồn của thi nhân không chỉ được giăng ra trên các chiều của không gian như ba khổ trước đó, mà nỗi buồn ấy còn được trải dài dằng dặc trên chiều của thời gian. Bởi vì mỗi câu thơ trong khổ đều được neo đậu vào những nỗi buồn dường như vĩnh hằng trong những câu thơ đã được viết ra nghìn năm trước đó. Và nhờ có khổ thơ này mà mối sầu của “Tràng giang” không chỉ là “nỗi sầu vạn lý” mà còn là “mối sầu vạn kỉ”. Cảm giác về “một chiếc linh hồn nhỏ, mang mang thiên cổ sầu” (Huy Cận ) được thể hiện rõ ở khổ thơ này hơn bất kì khổ thơ nào khác. Và như thế, nỗi buồn vũ trụ càng trở nên hoàn chỉnh hơn, nỗi khắc khoải không giang càng đầy đủ hơn. Kết thúc khổ thơ, nỗi buồn đầy đủ và trọn vẹn được mở ra trên ba chiều không gian và cả chiều thời gian, khiến cho “Tràng giang” càng thêm đậm đà phong vị Đường thi, hương vị thơ cổ điển ở ngay khổ cuối.

Tuy nhiên không vì thế mà có thể coi “Tràng giang” giống như là những vần thơ cổ điển. Huy Cận vẫn cứ hiện diện trong bài thơ như một nhà thơ mới, có thể nhận ra được từ cảm giác bơ vơ, bé nhỏ, một tâm trạng rất phổ biến của một “thời đại thi ca”. Bởi thế cánh chim chiều của Huy Cận mới yếu ớt, đáng thương đến thế, bởi đôi cánh nhỏ nhoi kia không đỡ nổi cả bóng chiều nhẹ nhàng, bảng lảng đến phải chao nghiêng. Nó khác nhiều với cánh cò bình thản trong thơ Vương Bột. Chất thơ mới ấy cũng thể hiện trong những rung động tinh tế khó nắm bắt trong cách nói “dợn dợn” ,làm nên cảm giác mơ hồ, lung linh không rõ rệt. Thêm vào đó, nhà thơ còn từ chối nguyên tắc “tức cảnh sinh tình” vốn đã là khuôn mẫu trong thơ cổ. Tình không cần phải được gợi ra từ khói hoàng hôn. Và với tất cả những lý do trên, khổ thơ cuối cùng của “Tràng giang” đã đạt đến những thành công có ý nghĩa về cả hai phương diện nội dung cảm xúc lẫn hình thức văn chương.


Tham khảo:

Phân tích bài thơ “Tràng giang”.

Những dòng sông hiền hòa, thơ mộng hay hùng vĩ, mênh mang, chắt chiu phù sa nuôi bến bờ xứ sở. Những dòng sông tắm mát, vỗ về, an ủi, nâng đỡ tâm hồn bằng cái bao dung mở lòng ngọt ngào của nước. Và rồi, sông nuôi nấng tâm hồn thi sĩ. Sông dạo những bản tình ca êm đềm, những khúc nhạc mạnh mẽ kiêu hùng. Biết ơn những dòng sông để từ đó Trương Hán Siêu viết “Bạch đằng giang phú”, để Văn Cao làm “Trường ca sông Lô”, để nhà văn Nguyễn Huy Thiệp tha thiết “Chảy đi, sông ơi!” Và để một chiều thu đã xa, Huy Cận đạp xe đến bờ nam bến Chèm, ngắm nhìn dòng sông miên man nước chảy mà thấy “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài” và rồi vẽ nên một bức tranh quấn quyện, hài hòa giữa phong vị cổ điển và hiện đại của “Tràng giang”.

Nhà phê bình Hoài Thanh đã từng nhận xét: “Đời chúng ta nằm trong một vòng chữ tôi, mất bề rộng ta đi tìm bề sâu, càng đi sâu ta càng lạnh, ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình của Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu”. Nếu Xuân Diệu gắn liền với đắm say với thiết tha, rạo rực thì nhà thơ Huy Cận lại gắn liền với nỗi sầu vạn kỷ mênh mang, đa sầu, đa cảm. Bài thơ “Tràng giang” là bài thơ tiêu biểu cho hồn thơ và tình thơ Huy Cận được sáng tác vào một buổi chiều mùa thu năm 1939. Ở đó ta thấy một bức tranh thiên nhiên mênh mông vương màu buồn thương, hiu quạnh của một cái tôi mang nỗi sầu vạn kỉ.

Cảm hứng của bài thơ quả là cảm hứng không gian. Không gian được trải ra từ mặt sông lên tận chót vót đỉnh trời, không gian được mở ra từ thẳm sâu vũ trụ vào tận thăm thẳm tâm linh con người. Ấy là một thế giới vừa được nhìn bằng sự chiêm nghiệm cổ điển, vừa được cảm nhận bằng tâm thế cô đơn của một cái “tôi” hiện đại, rất đặc trưng cho Thơ mới. Có lẽ vì thế mà “Tràng giang” hiện ra như một bức tranh tạo vật trường cửu, lớn lao, vừa hoang sơ, vừa cổ kính, trong đó thi sĩ hiện lên như một lữ thứ đơn độc lạc loài?

Trước hết, không gian “Tràng giang” thuộc về mênh mông vô biên. Ngay cái tên bài thơ đã như một cửa ngõ mở vào vô biên bởi “Tràng giang” gợi ra hình tượng một con sông chảy mênh mang giữa trời đất. Và câu đề từ “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài”, tuy vẫn còn nằm ngoài văn bản, nhưng nó đã như một bức rèm hé mở mang ta vào với vô tận, mà người đọc cần vén lên; hoặc như một hành lang mở thông vào vô biên, mà người đọc cần dấn bước.

Dẫu sao, những hình ảnh sống động của một thế giới có thể cảm nhận hoàn toàn trực quan chỉ thực sự mở ra với những câu đầu:

“Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp
Con thuyền xuôi mái nước song song”

Có lẽ cái chất thơ của sông nước đã nhập vào những câu thế này để phô bày vẻ đẹp của nó. Câu thứ nhất tả sóng, câu thứ hai tả những dòng trôi, những luồng nước trên mặt sông. Nếu câu thứ nhất gợi được những vòng sóng đang loang ra, lan xa, gối lên nhau, xô đuổi nhau đến tận chân trời, thì câu thứ hai lại vẽ ra những luồng nước cứ song song, rong ruổi mãi về cuối trời. Không gian vừa mở ra bề rộng, vừa vươn theo chiều dài. Đúng là nó có thấp thoáng âm hưởng hai câu thơ cũng tả sông nước trong bài “Đăng cao” nổi tiếng của Đỗ Phủ:

Tham Khảo Thêm:  Lập luận trong văn nghị luân

“Vô biên lạc mộc tiêu tiêu hạ
Bất tận trường giang cồn cồn lai.”

(Ngàn cây bát ngát, lá rụng xào xạc
Dòng sông dằng dặc, nước cuồn cuộn trôi.)

Cũng dùng những từ láy nguyên để gợi tả, trong khi tác giả “Đăng cao” đặt ở giữa câu, thì tác giả “Tràng giang” lại đẩy xuống cuối câu. Nhờ thế hai từ láy nguyên “điệp điệp” “song song” tạo ra được dư ba. Nghĩa là lời thơ đã ngừng mà ý hướng và âm hưởng vẫn còn vang vọng như dội mã vào vô biên. Trước không gian mênh mông, vô tận của sóng nước, Huy Cận như thả hồn mình nơi ấy, để rồi từng con sóng cũng biết “buồn điệp điệp” – một nỗi buồn không mãnh liệt trào dâng mà u sầu miên man không sao ngừng được. Giữa một dòng sông lớn mang trong lòng một nỗi buồn lớn thấp thoáng hơi ấm của con người khi xuất hiện hình bóng của “thuyền” nhưng lạ thay con thuyền ấy lại “xuôi mái” chảy theo dòng nước mênh mông vô định, không người chèo lái, không bến bờ trở về. Văn học xưa nay ta vẫn hay thấy cặp hình ảnh thuyền và nước, chúng gắn bó chặt chẽ với nhau. Ấy thế mà giờ đây, trong hồn thơ Huy Cận – một tạng thơ ảo não, sầu muộn thì thuyền và nước lại xa cách, biệt li:

“Thuyền về nước lại sầu trăm ngả”

Thuyền và nước những tưởng là hai hình ảnh song song đồng hành với nhau, đến đây lại cách xa, buồn tủi. Hình ảnh đối ngẫu “thuyền về nước lại” gợi sự chia lìa xót xa, thuyền một hướng, nước một hướng, sầu thương vô cùng. Thuyền lênh đênh trôi mãi đi xa để lại dòng nước lặng lẽ ở lại, heo hắt, cô quạnh. Thuyền và nước ở đây không còn là sự vật vô tri vô giác của thiên nhiên mà đã được nhân hóa lên như một con người. Trước sự chia li, cách biệt chúng cũng có cảm xúc như con người: “sầu trăm ngả”. Nỗi sầu không ngả một bên mà ngả trăm đường, lan tỏa, tràn lan như bao trùm cả khoảng không. Sự trái ngược đó nhìn có vẻ phi lí nhưng ta cũng thấy rõ sự logic trong câu thơ của tác giả, nó thể hiện được cảm xúc chủ đạo của bài thơ, sự chia li, xa cách trước thời thế của cuộc đời, dạt dào trôi nổi trong trạng thái bị động và nỗi buồn trong cái tôi của Huy Cận. Để rồi một hình ảnh thật lạ, thật đặc biệt bước vào thi ca như để phá vỡ mọi quy phạm của văn học trung đại:

“Củi một cành khô lạc mấy dòng”

Từ một cành cây xanh tươi nơi núi rừng đầu nguồn đến một cành củi khô bập bềnh trôi nổi dưới dòng, ta biết thân phận cỏ cây ấy đã qua nhiều thương đau. Điều đó khiến ta liên tưởng đến những phận người bé nhỏ, nổi trôi, bị dập vùi trước bể dâu cuộc đời. Trong câu thơ này, Huy Cận đã sử dụng biện pháp đối lập triệt để. Bên này là “củi một cành khô” còn bên kia là “lạc mấy dòng” như để tô đậm thêm sự mênh mông vô tận của không gian sông nước song cũng khiến người đọc không khỏi bận lòng trước một cành củi bị dập vùi. Dẫu nhấn mạnh điều gì thì ta cũng không thể phủ nhận nỗi buồn, sự cô đơn, chơi vơi, lạc lõng của thi nhân giữa dòng đời vô chung vô thủy, trước thời đại xô bồ, hỗn loạn. Tâm trạng ấy không chỉ có ở Huy Cận mà ta còn gặp trong một hồn thơ tha thiết, khát yêu của Xuân Diệu:

“Tôi là con nai nhỏ bị chiều giăng lưới
Không biết đi đâu đứng sầu bóng tối”.

Suốt dọc bài thơ, Huy Cận còn dày công khắc họa vẻ mênh mông vô biên của không gian bằng biết bao chi tiết giàu tính nghệ thuật khác.Vừa dùng cái lớn lao để gợi sự mênh mông, vừa dùng cái hữu hạn để gợi sự vô cùng. Ấy là hàng trăm ngả sông, bao cồn đất:

“Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu”

Khung cảnh bến bờ hoang vắng trong một buổi chiều mùa thu buông xuống chỉ thấy lơ thơ vài cây cỏ mọc lổm nhổm trên những cồn cát nhỏ chạy giữa dòng sông gợi một thiên nhiên bao la chìm trong sự cô đơn, hoang vu, lạnh lẽo. Nếu ở khổ thơ đầu ta chỉ thấy được hình ảnh con thuyền lênh đênh một mình với nỗi buồn “điệp điệp” thì ở khổ thơ thứ hai ta lại được nhìn thấy những cồn cát nhỏ bé, trôi nổi lênh đênh trên mặt nước sóng vỗ đang dần bị sức mạnh của gió cuốn trôi. Hình ảnh đó làm ta liên tưởng đến số phận con người trong xã hội cũ lúc bấy giờ. Tất cả đều là bị động, số phận của con người giờ đây đã bị an bài, sắp đặt. Hình ảnh cồn nhỏ và những ngọn gió đìu hiu, lạnh lẽo trong một không gian rộng lớn khiến người đọc không khỏi bồi hồi, xao xuyến, đồng cảm với cảm xúc của nhà thơ.

Khát thèm âm thanh của cuộc sống người, thi sĩ lắng nghe, không dám mơ đến thứ âm thanh náo động vui tươi, chỉ mong gặp thứ âm thanh xoàng xĩnh nhất, buồn chán nhất của cuộc sống người:

“Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều”

Huy Cận mượn thi pháp văn trung đại thật khéo, ấy là lối lấy động tả tĩnh, lấy âm thanh để gợi mở một không gian vô cùng tĩnh tại. “Đâu” mang ý nghĩa thứ nhất là không tồn tại. Giữa cả một khung cảnh với thiên nhiên rộng lớn, vắng vẻ nhưng không nghe thấy bất kì một tiếng động nào từ phiên chợ tạo nên một khoảng không gian buồn hiu, quạnh vắng. Hay cũng có ý kiến cho rằng “đâu” được hiểu với nghĩa đâu đó vẫn có tiếng chợ lao xao, rì rào của phiên chợ tàn. Dù theo nghĩa nào thì nó cũng nhằm nói đến cuộc sống tân rã, một đằng thì đã vắng bóng, một đằng thì đang vắng bóng mà thôi.

Một bức tranh thiên nhiên hiu quạnh, vắng lặng, thiếu vắng sự sống con người là thế! Nhưng có lẽ bức tranh vô biên của “Tràng giang” đạt đến tận cùng là ở hai câu này:

“Nắng xuống trời lên sâu chót vót
Sông dài, trời rộng bến cô liêu.”

Câu trên là sự vô biên được mở về chiều cao. Câu dưới là sự vô biên cả bề rộng và chiều dài. Có một khoảng không gian đang giãn nở ra trong cụm từ: “Nắng xuống, trời lên”. Hai động từ ngược hướng lên và xuống đem lại một cảm giác chuyển động rất rõ rệt. Nắng xuống đến đâu, trời lên đến đó. Và nó được hoàn tất bởi cụm từ “sâu chót vót”. Có cái gì như phi lí! Có lẽ không chịu được vẻ phi lí mà có nhiều người đã cố tình in và viết thành “sầu chót vót” để dễ dàng hình dung hơn. Tiếc rằng, chính “sâu” mới là sự xuất thần của hồn thơ. Đây không phải là sự lạ hóa ngôn từ. Nếu có, thì trước hết là sự lạ hóa trong cách nhìn, trong cảm giác.

Ánh mắt tác giả không dừng lại ở đỉnh trời một cách thường tình để nhận biết về chiều cao, mà nó như xuyên vào đáy vũ trụ để cảm nhận về chiều sâu. Song, dẫu sao, đây vẫn vẫn là chiều sâu của một cái nhìn ngước lên. Cho nên, mới là “sâu chót vót”. “Chót vót” vốn là một từ láy độc quyền của chiều cao, bỗng phát huy một hiệu quả không ngờ. Nó còn gợi sắc thái chưa hoàn tất. Dường như cái nhìn của thi sĩ vươn tới đâu thì trời sẽ sâu tới đó, mỗi lúc một chót vót hơn. Vừa tương xứng vừa hô ứng với câu trên, câu thứ hai mở ra bát ngát, tít tắp. Câu thơ được viết giản dị, không chữ nào lạ, ngỡ như chỉ là sự sắp xếp các chiều kích của tràng giang. Các trạng thái tĩnh, các tính từ dường như “cựa quậy” đòi động từ hóa.

Trong áp lực của cái nhìn xa hút, có cảm giác “sông dài” (ra) trời rộng (thêm). “Sông dài trời rộng” bao nhiêu, to lớn bao nhiêu thì sự sống của con người càng nhỏ bé bấy nhiêu. Sở dĩ tác giả sử dụng “cô liêu” để làm nổi bật cảnh vật không có sự xuất hiện bóng dáng của con người, con người chỉ là một phần nhỏ trong không gian, một hình thể nhỏ bé trong vũ trụ khổng lồ với nỗi buồn hiu quạnh.

Khung cảnh cồn bến hoang vắng trong nắng chiều hiện lên thật đẹp song cũng thật buồn, nỗi buồn ấy phải chăng do sự hiu quạnh của thiên nhiên hay do nỗi lòng người nghệ sĩ đang nặng trĩu:

“Bèo dạt về đâu hàng nối hàng
Mênh mông không một chuyến đò ngang
Không cầu gợn chút niềm thân mật
Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”

Cùng với hình ảnh của thuyền và củi thì đó là hình ảnh bèo trôi dạt. Sự cô đơn, lạc lõng cứ miên man nối dài từ khổ này sang khổ khác khiến người đọc cảm nhận sâu sắc sự lênh đênh, trôi nổi, vập dùi của kiếp người nhỏ bé. Họ sẽ đi đâu về đâu trước cuộc đời dâu bể? Hay họ đành bất lực phó mặc phận mình cho dòng đời xô đẩy, dập vùi? Ý thơ này của Huy Cận phải chăng được lấy cảm hứng từ câu ca dao than thân:

“Thân em như trái bần trôi
Gió dập sóng dồi biết tấp vào đâu”

Hình ảnh không phải mới nhưng vẫn đặc biệt khi đặt giữa dòng “tràng giang”, người đọc thấm thía cái mênh mông của đất trời, cái xa vắng của thời gian, cái vô cùng của thiên nhiên tạo hóa. Để rồi hai bên bờ sông tựa như hai thế giới cách biệt, những phương tiện giao lưu gợi sự có mặt của con người cũng không hề có:

“Mênh mông không một chuyến đò ngang
Không cầu gợi chút niềm thân mật”

Những con đò, thuyền, bến bờ đều là những nơi rất quen thuộc, gần gũi với con người. Đó là địa điểm buôn bán, giao thương, chuyện trò khi phiên chợ bắt đầu ấy thế mà trong câu thơ của tác giả lại mang những cảm xúc chơi vơi, im ắng đến lạ kỳ, một cảm giác thật trống vắng, cô đơn lạnh lẽo không một bóng dáng con người. Với nỗi chơi vơi, thầm kín đó, tác giả mong muốn được tìm sự đồng cảm, sự sẻ chia “không cầu gợi chút niềm thân mật” nhưng vẫn tuyệt nhiên không tìm thấy chỉ còn lại “bờ xanh tiếp bãi vàng”. Nỗi buồn cứ thế nối tiếp nhau, trải dài và giãn nở trong một không gian mênh mông vô tận.

Hình ảnh thiên nhiên tuyệt đẹp lại trái ngược với hình ảnh con người, giờ đây không còn nữa. “Còn trời đất nhưng chẳng còn tôi nữa” trong bài thơ “Vội vàng” của Xuân Diệu cũng đề cập đến điều này. Sự vắng bóng đó làm cho cảnh sắc thiên nhiên trở nên ảm đạm, tẻ nhạt, nhàm chán, quẩn quanh chỉ có tiếng sóng vỗ lặng lẽ tiếp nối nhau. Qua đó ta thấy được một bức tranh với cô đơn, một nỗi buồn mênh mang đến vô tận, thể hiện được kiếp người bé nhỏ, trôi nổi bồng bềnh, bơ vơ, bất hạnh thấm thía nỗi buồn của sự cô đơn, hiu quạnh.

Cảm xúc dồn nén đến độ căng nhất định thì sẽ trào dâng ngút ngàn thế nên ở khổ thơ cuối, Huy Cận bộc bạch cả tấm lòng nặng trĩu ưu tư với dân, với nước:

“Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,
Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa.
Lòng quê dợn dợn vời con nước,
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.”

Đứng ở bờ Nam bến Chèm, Huy Cận thả hồn, ngắm cảnh sắc non sông. Một bức tranh đẹp đẽ, tráng lệ. Đó là hình ảnh “lớp lớp mây cao đùn núi bạc”. Những đám mây đan xen vào nhau chờ những ánh tà dương chiếu xuống không trung. Một cảnh thiên nhiên thật ấm áp đến kì lạ. Nhưng đối lập với cảnh hùng vĩ đó ta lại nhìn thấy “chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa” một nỗi cô đơn, buồn tẻ lại hiện lên trong một bầu trời rộng lớn.

Chính sự nhỏ bé hiện ra trong một vũ trụ bao la làm cho cảm xúc của thi nhân như đè nặng hơn. Hình ảnh chim, bến, thuyền, củi,… những sự vật nhỏ bé, đơn côi trước sự rợn ngợp của không gian. Tác giả đã sử dụng biện pháp ẩn dụ để nói đến số phận con người thật nhỏ bé, trôi nổi giữa dòng chiều của những con sóng nước. Tất cả đều là hình ảnh đối lập giữa cảnh thiên nhiên và số phận con người. Đất trời có to lớn, thênh thang bao nhiêu thì số phận con người vẫn chỉ là một hạt cát, một sự sống bé nhọn bấy nhiêu.

“Lòng quê dợn dợn vời con nước”

Nếu sóng nước trong khổ thơ đầu là những “gợn” buồn nối tiếp giữa sông dài trời rộng thì trong câu thơ này, đó đã là những “con nước lớn”. Từ láy “dợn dợn” gợi tả trạng thái những con sóng dập dềnh lên xuống, khi nổi, khi chìm từ đó diễn tả nỗi rợn ngợp của lòng người giữa đất trời mênh mang. “Vời” là ánh mắt nhìn về phương xa, ánh mắt mải miết dõi theo những con sóng nhấp nhô, gối đầu lên nhau, miên man, típ tắp… Theo ánh mắt “vời” về phương xa ấy là nỗi buồn nhớ về miền quê thân yêu, ấm áp, một ánh mắt như khao khát giao cảm, khao khát tình đời, tình người và cũng hoàn toàn vô vọng trong niềm khao khát ấy! Đằng sau ánh mắt “vời con nước” là một tấm lòng quê nặng trĩu ưu tư:

“Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”

Thôi Hiệu xưa nhớ nhà cũng bởi sắc hoàng hôn như thế:

“Nhật mộ hương quan hà xứ thị
Yên ba giang thượng sử nhân sầu”

Mượn tứ thơ xưa cho câu kết của “Tràng giang”, Huy Cận đã đem đến một phong vị Đường thi cổ điển làm xao xuyến cả câu câu thơ lãng mạn. Nhưng ấn tượng ở chỗ Huy Cận thật biết làm mới mình. Nếu trong thơ Thôi Hiệu, nỗi sầu nhớ quê hương bắt nguồn từ “khói hoàng hôn” – cũng có nghĩa ít nhiều chịu sự tác động của ngoại cảnh thì với cấu trúc phủ định “không … cũng” của Huy Cận đã đem đến một cảm nhận mới: nỗi buồn, sự cô đơn, lòng nhớ quê không chỉ do hoàng hôn, không vì những tác động của ngoại cảnh như thơ xưa. Trái lại nỗi buồn có sẵn trong lòng người, tỏa ra tự lòng người, loang thấm vào ngoại cảnh – nỗi buồn của những người dân đang sống trên đất nước mình mà vẫn “nhớ nhà”, vẫn thấy như “thiếu vắng quê hương” bởi thực chất đó là nỗi buồn của những người dân mất nước. Nỗi buồn của thi nhân trước cảnh sông nước kín đáo hòa quyện với lòng yêu quê hương đất nước.

Buổi chiều mùa thu hôm ấy đã hết, “Tràng giang” cũng đã khép lại trên bàn làm việc, tôi bâng khuâng, lưu luyến trước vẻ đẹp “lạ” của một hồn thơ ẩn chứa “nỗi buồn vạn kỉ”. Ấy là vẻ đẹp của sự hài hòa giữa nét cổ điển và hiện đại. Trước tiên là cái đẹp mang phong vị Đường thi, dường như nó đã ngấm sâu trong từng nét chữ để rồi nồng thở vị xa xưa. Ngay từ nhan đề “Tràng giang” – một từ Hán Việt ý chỉ con sông dài kết hợp với điệp vần “ang” tạo nên sắc thái cổ kính cùng âm hưởng ngân vang dài rộng. Màu sắc cổ điển ngay từ đầu đã dẫn dắt, khơi nguồn cảm hứng cho thi nhân khắc họa bức tranh thiên nhiên vô cùng, vô tận với nỗi sầu muộn chất chứa trào dâng. Và cứ thế phong vị cổ điển như được nối dài miên man bằng những chất liệu, hình ảnh, bút pháp miêu tả, ngôn ngữ, giọng điệu. Vốn ta chẳng còn xa lạ với những hình ảnh như: “sóng gợn, bến, cánh chim, áng mây, bóng hoàng hôn, …” trong thơ xưa, bởi đôi lần ta đã gặp gỡ:

Bến Phì gió thổi đìu hiu mấy gò”

(Chinh phụ ngâm)

Hay trong bài “Cảm xúc mùa thu” của Đỗ Phủ:

“Mặt đất mây đùn cửa ải xa”.

Quen mà vẫn lạ, ấy là bởi Huy Cận thật biết làm mới mình. Ông đặt để một “cái tôi” cô đơn, sầu muộn trong tứ thơ xưa. Để ta thấy nỗi buồn của lòng người đang tan ra hòa vào không gian vũ trụ đến mênh mông, bất tận. Nó khiến cho vạn vật như trôi nổi, bấp bênh, vô định, thiếu vắng sự sống của con người. Phải chăng vì cô đơn, lạc lõng nên “cái tôi” ấy mới dợn dợn trào dâng nỗi nhớ nhà, nhớ quê hương ngay cả khi đang đứng trên quê hương mình. Tâm sự ấy chính là dấu ấn của cái tôi đương thời mang trong mình tấm lòng “An Nam hoàn toàn”. Cái tôi ấy chẳng thể lẫn vào đâu được trong tinh thần chung của Thơ mới. Huy Cận đã quyến rũ bao thế hệ bạn đọc bằng cái tạng riêng của mình như thế!

Cổ điển, hiện đại đan xen hòa hợp đã mang đến cho “Tràng giang” âm hưởng nhịp nhàng với cảm xúc buồn hiu, lạnh lẽo. “Tràng giang” đã hiện lên như một bản nhạc êm đềm, thiết tha mang nỗi lòng của Huy Cận gửi vào chốn mênh mông sâu thẳm chẳng có bến bờ nào. Một nỗi niềm chan chứa ưu tư của tác giả về tình yêu quê nhà, đất nước, con người của chính mình ông. Một cảm xúc rất chân thật trước bầu trời thiên nhiên mênh mông, bao la đến bất tận!

Related Posts

Nghị luận: Cái mất đáng tiếc là thời gian. Cái mất đáng lo là cơ hội. Cái mất đáng buồn là niềm tin. Cái mất đáng sợ là tình người

Mất mát đáng tiếc là thời gian. Lo lắng mất mát là cơ hội. Một mất mát đáng buồn là niềm tin. Mất mát ghê gớm là…

Vẻ đẹp phong cách nhà Nho trong Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ và Bài ca ngắn đi trên bãi cát của Cao Bá Quát.

Vẻ đẹp phong cách nhà Nho trong Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ và Bài ca ngắn đi trên bãi cát của Cao Bá Quát….

Những lỗi thường bị trừ điểm trong bài làm văn của học sinh.

Những lỗi thường bị trừ điểm trong bài làm văn của học sinh. I. Những lỗi thường gặp trong bài làm văn của học sinh. 1. Lỗi…

Những lưu ý khi tiến hành làm bài văn nghị luận.

Những lưu ý khi viết luận văn. 1. Trước khi lên lớp học sinh phải phân tích đề. – Chỉ định định dạng tiêu đề. – Xác…

Cách làm bài văn nghị luận văn học không bị lạc đề.

Cách làm bài văn nghị luận văn học không bị lạc đề. A. Mở đầu. Trong khi làm bài văn nghị luận về tác phẩm văn học,…

Nghị luận: Thơ ca là cái đẹp đi tìm

tranh luận: thơ là vẻ đẹp được tìm kiếm. Một chuyên gia thẩm mỹ cho biết: Tất cả các thể chế chính trị đều qua đi, chỉ…

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *