Phân tích nghệ thuật lập luận của Hồ Chí Minh trong bản Tuyên ngôn độc lập

ảo thuật

Phân tích nghệ thuật lập luận của Hồ Chí Minh trong Tuyên ngôn độc lập

1. Giới thiệu sơ lược về tác giả Hồ Chí Minh và Tuyên ngôn Độc lập:

Hồ Chí Minh ——Lãnh tụ vĩ đại, vị cha già kính yêu của dân tộc. Cuộc đời của Người là một cuộc đời của trí tuệ vĩ đại và nhân cách vĩ đại. Ông còn được biết đến với tư cách là một nhà văn và nhà thơ. Tác phẩm của ông có thể gọi là di sản quý báu của kho tàng văn học dân tộc.

Hồ Chí Minh coi văn học là vũ khí chiến tranh. Khi viết, anh luôn xác định rõ mục đích, người nhận để từ đó xác định nội dung và hình thức của tác phẩm. Phong cách viết chính luận: ngắn gọn, súc tích, lập luận chặt chẽ, có lập luận chặt chẽ. Tiêu biểu cho văn xuôi chính luận Hồ Chí Minh, tác giả không chỉ có đầu óc trong sáng, trí thông minh nhạy bén… mà còn có tấm lòng yêu nước nồng nàn.

sao chép Tuyên ngôn độc lập Đây là tài liệu, phong cách và nghệ thuật lập luận tuyệt vời của một nhà văn chính trị lỗi lạc.

Đất nước lâm vào cảnh khốn cùng: khi nền độc lập vừa giành được đã bị đe dọa bởi các thế lực phản động quốc tế, nhất là thực dân Pháp muốn quay lại cướp nước ta một lần nữa, Tuyên ngôn độc lập ra đời trong hoàn cảnh khó khăn đó. là quốc gia, đồng bào và toàn thế giới. Các thế lực thù địch và bọn cơ hội quốc tế ra sức lũng đoạn nước ta một lần nữa, nhất là bọn thực dân.

hai. Phân tích Nghệ thuật lập luận của Hồ Chí Minh trong Tuyên ngôn độc lập.

1. Kế thừa và thể hiện sáng tạo cơ sở pháp lý của Tuyên bố:

+ Hồ Chí Minh trích dẫn hai bản tuyên ngôn của Pháp và Mỹ. Hai câu đó đã nhấn mạnh vấn đề nhân quyền, vấn đề quyền cá nhân – những chân lý vĩ đại của nhân loại mà không ai có thể phủ nhận được.

+ Ngoài ra, đây là bản tuyên ngôn của hai cường quốc nên câu trích dẫn rất có tác dụng: phải “gậy ông đập lưng ông” để chặn đứng âm mưu lấy lại nước ta của kẻ thù, thực dân, đế quốc không được xâm phạm, không được phản bội. lời thề của tổ tiên, đồng thời khẳng định địa vị đáng tự hào của dân tộc, trong cuộc tranh luận Tam luân, Tam tuyên đều bình đẳng.

+ Từ những câu trích dẫn trong Tuyên ngôn của Hoa Kỳ, Bác Hồ khẳng định dân tộc Việt Nam được hưởng quyền tự do, bình đẳng như các dân tộc khác bằng suy luận trực tiếp và “chắt lọc”. Xác nhận xong, Người trích dẫn bản tuyên bố của Pháp, nhấn mạnh và khẳng định nhân dân Việt Nam có quyền hưởng độc lập, tự do và bình đẳng. Một kết luận tất yếu được rút ra từ những cuộc tranh luận như vậy là “đó là những sự thật không ai có thể phủ nhận”.

+ Mở đầu lập luận chặt chẽ, thể hiện sự tài tình, kiên quyết, sáng tạo.

2. Lập luận và bác bỏ dựa trên thực tiễn của yêu cầu bồi thường:

+ Để bác bỏ luận điệu của Pháp là công khai hóa Việt Nam, Bác đưa ra những bằng chứng cả về chính trị và kinh tế: Pháp tuyên bố mang lại “văn minh và tự do” cho Việt Nam, nhưng “đặt nhiều nhà tù hơn trường học”. Pháp rao giảng “bình đẳng, văn minh” cho Việt Nam, nhưng “lập ba chế độ ba miền Bắc Trung Nam để ngăn cản nước ta thống nhất, ngăn cản đồng bào ta đoàn kết”. Pháp tuyên bố “dân sự bác ái” cho Việt Nam, nhưng “họ thi hành luật pháp dã man”.

+ Để bác bỏ luận điểm cho rằng nước Pháp đáng được bảo hộ, bản tuyên ngôn dùng sự thật lịch sử để thuyết phục: “Năm 1940, Nhật đến Đông Dương, thực dân Pháp đầu hàng, nước ta mở cửa đón Nhật”. Năm 1945, Nhật đuổi Pháp, “Thực dân Pháp hoặc bỏ chạy hoặc đầu hàng”. Thừa nhận “Trong 5 năm, Pháp hai lần bán nước ta cho Nhật”.

+ Để bác bỏ luận điệu cho rằng Pháp ủng hộ đồng minh, Bác Hồ đã so sánh với sự thật lịch sử: “Pháp hai lần bán nước ta cho Nhật. .”

+ Luận cứ chứng minh lập trường của nhân dân ta: Nhân dân ta đứng về phe Đồng minh chống chủ nghĩa phát xít. Nhân dân cả nước tiến hành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ, đi đầu kháng Nhật, cướp nước, thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Nền độc lập của dân tộc Việt Nam phù hợp với nguyên tắc dân chủ, hoà hoãn gay gắt của các nước Đồng minh trong Hội nghị Têhêran và Hội nghị Kim Sơn Lào.

—— Đoạn văn này, với lập luận chặt chẽ, logic nhân quả và bằng chứng thuyết phục, đã làm nổi bật cơ sở thực tế của Tuyên ngôn.

3. Hồ Chí Minh kế thừa những luận cứ pháp lý và sự thật và tuyên bố như sau:

+ Khẳng định “Nước Việt Nam có quyền” và “sự thật đã thành một nước độc lập”. Đây là một tuyên bố khẳng định và công khai. + Bày tỏ quyết tâm “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tinh thần và sức lực, tính mạng và của cải để bảo vệ quyền tự do, độc lập”, bày tỏ quyết tâm, kêu gọi đồng bào, cả nước chung tay bảo vệ nền độc lập, tự do đã có. vừa giành được.

——Tuyên ngôn phong cách của bạn Sắc sảo, sắc sảo nhưng vô cùng trong sáng, ngắn gọn, súc tích, đầy hương vị nghệ thuật.

– Ngôn từ sử dụng chính xác, giản dị, dễ hiểu, gần gũi. Lời bài hát rõ ràng nhưng hiện đại. Tức là không ngại sử dụng các câu có cấu trúc phức tạp, các kiểu câu khẳng định liên hoàn (khẳng định, phủ định, khẳng định phủ định, phủ định phủ định), câu nối tiếp, câu song song… Kết cấu liên kết phối hợp nhịp nhàng, đoạn văn cô đọng, nhạc điệu phù hợp, giàu hình ảnh, vần điệu. Mọi thứ đều rất ngắn gọn và rõ ràng.

3. So với “Bình Ngô Đại Cáo” Nguyễn Trãi viết.

– Bình Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trãi ra đời vào cuối năm 1427 đầu năm 1428, sau khi nghĩa quân Lam Sơn đánh tan quân Minh. Đó là bản tóm tắt hào hùng về chặng đường gian khổ của nghĩa quân Núi Xanh từ đầu cuộc chiến cho đến ngày toàn thắng.

1. Điểm giống nhau giữa “Tuyên ngôn độc lập” và “Bình Ngô đại cáo”:

+ Cả hai tác phẩm đều có chung một ý nghĩa là tuyên bố rộng rãi nền độc lập, tự do của dân tộc.

+ Cả hai bản tuyên ngôn đều xuất phát từ tư tưởng nhân đạo của dân tộc, đó là tư tưởng hòa bình, tự do, bình đẳng và đều chứa đựng nội dung lên án tội ác “không đội trời chung” của kẻ thù. cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do của nhân dân ta. Đồng thời, cả hai bản tuyên ngôn đều có lời tuyên bố hòa bình, có lời quyết giữ gìn tự do, độc lập.

2. Nét độc đáo của Bình Ngô Đại Cáo:

+ Về đối tượng phục vụ: Bên cạnh nhân dân, Bình Ngô Đại Cáo khẳng định nền độc lập của nước Nam khỏi phương Bắc.

+ Về cách mở đầu: Lời mở đầu của Bình Ngô Đại Cáo là một sự thật lịch sử.

+ Cơ sở pháp lý: Bình Ngô Đại Cáo dựa trên nguyên tắc nhân nghĩa: “Cốt lõi của con người là ở hiền hòa”. Đội quân Núi Xanh lần đầu tiên được Li Lai triệu tập để bảo vệ sự an toàn của người dân, thể hiện đạo đức và lòng nhân đạo, đồng thời chống lại những hành động tàn bạo.

4. Nhận xét, Ý kiến:

——Có thể nói, hai tác phẩm này là thể văn chính luận có bố cục chặt chẽ (tổng cộng có ba bài), lập luận sắc bén, hùng hồn, có ý nghĩa lý luận cao, dẫn chứng rõ ràng, cụ thể, chính xác, đầy tâm huyết. ..

– Không chỉ tổng kết quá trình đấu tranh, giữ vững chân lý, tuyên bố quyền độc lập, hai bản tuyên ngôn còn vô cùng xúc động, bởi lời nói nào cũng có sức mạnh: đó là sức mạnh của lời nói, cách triển khai luận điểm, luận cứ, cách thức. khéo léo, vững vàng, mạnh dạn Sử dụng lập luận hiệu quả, thuyết phục.

—Và thế là chúng ta đã đi đến chỗ khâm phục những cây bút viết sử thi anh hùng ca, những cây bút chính luận mẫu mực.

Tham Khảo Thêm:  Qua bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu, hãy làm rõ: Đọc một câu thơ hay, người ta không thấy câu thơ, chỉ còn thấy tình người trong đó - Tố Hữu

Related Posts

Nghị luận: Cái mất đáng tiếc là thời gian. Cái mất đáng lo là cơ hội. Cái mất đáng buồn là niềm tin. Cái mất đáng sợ là tình người

Mất mát đáng tiếc là thời gian. Lo lắng mất mát là cơ hội. Một mất mát đáng buồn là niềm tin. Mất mát ghê gớm là…

Vẻ đẹp phong cách nhà Nho trong Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ và Bài ca ngắn đi trên bãi cát của Cao Bá Quát.

Vẻ đẹp phong cách nhà Nho trong Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ và Bài ca ngắn đi trên bãi cát của Cao Bá Quát….

Những lỗi thường bị trừ điểm trong bài làm văn của học sinh.

Những lỗi thường bị trừ điểm trong bài làm văn của học sinh. I. Những lỗi thường gặp trong bài làm văn của học sinh. 1. Lỗi…

Những lưu ý khi tiến hành làm bài văn nghị luận.

Những lưu ý khi viết luận văn. 1. Trước khi lên lớp học sinh phải phân tích đề. – Chỉ định định dạng tiêu đề. – Xác…

Cách làm bài văn nghị luận văn học không bị lạc đề.

Cách làm bài văn nghị luận văn học không bị lạc đề. A. Mở đầu. Trong khi làm bài văn nghị luận về tác phẩm văn học,…

Nghị luận: Thơ ca là cái đẹp đi tìm

tranh luận: thơ là vẻ đẹp được tìm kiếm. Một chuyên gia thẩm mỹ cho biết: Tất cả các thể chế chính trị đều qua đi, chỉ…

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *