Phân tích ý nghĩa tình huống truyện trong truyện ngắn Làng của Kim Lân

phan-tich-y-nghia-tinh-huong-truyen-trong-truyen-ngan-lang-cua-kim-lan

Ý nghĩa của tình huống truyện độc đáo trong truyện ngắn “Làng” của Kim Lan

câu chuyện”làng bảnxây dựng tình huống truyện độc đáo, bộc lộ sâu sắc tình yêu quê hương, yêu nước trong tâm hồn người nông dân. Ông Hai trong truyện là một người rất yêu làng chợ Dầu của mình và luôn tự hào khoe làng mình. Vậy mà anh phải nghe tin làng anh rình rập giặc, dân làng anh làm tiếng Việt giả từ miệng của những người lưu lạc dưới xuôi.

Hoàn cảnh ấy khiến ông cay đắng, xót xa, xấu hổ, day dứt trong mâu thuẫn giữa nỗi nhớ quê hương và lòng yêu nước, mâu thuẫn này cũng thật gay gắt, nồng nàn. Tác giả đặt nhân vật vào hoàn cảnh gay gắt đó, bộc lộ sâu sắc hai cung bậc cảm xúc trên của nhân vật, đồng thời cho thấy lòng yêu nước và tinh thần quật khởi lan tỏa, bao trùm lên tình yêu làng. Sự hòa hợp và đoàn kết đã truyền cảm hứng cho những cảm xúc khác của người dân Việt Nam trong những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp.


tham khảo:

Phân tích truyện ngắn “Làng” của nhà văn Kim Lan

Kim Lân, nhà văn trước Cách mạng tháng Tám. Sinh ra và lớn lên ở một vùng quê có truyền thống văn hiến lâu đời, anh thấu hiểu hoàn cảnh khó khăn của nông thôn Việt Nam và người nông dân. Vì vậy, khi viết về chủ đề này, Kim Ran đã thành công hơn hầu hết mọi người. Đặc biệt trong truyện ngắn “Cảnh quê”, tác giả đã xây dựng hình ảnh ông Hai là một người nông dân chất phác, cần cù, hết lòng yêu quê hương đất nước, gắn bó bền chặt với dân tộc Việt Nam trường kỳ kháng chiến.

Ông Hai là người rất yêu làng quê này. Tình yêu cháy bỏng và rực lửa của anh ấy được thể hiện qua niềm tự hào và một sự khoác lác bẩm sinh.

Anh có một tình yêu tha thiết với làng quê. Tình yêu và niềm tự hào về làng Chợ Dầu có lẽ đã chiếm lấy tâm hồn ông. Khi anh đau, anh cũng ca ngợi và nói về những điều trong làng. Đó thực sự là một câu chuyện tình yêu đẹp, đáng được ngưỡng mộ và trân trọng. Kháng chiến chống Pháp bùng nổ. Cũng như bao nông dân khác, ông Hải luôn tin tưởng vào đường lối kháng chiến và sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Tản cư xa làng, ông nhớ làng da diết. Ông nhớ từ con đường làng đến những ngôi nhà mái ngói, từ phòng công vụ khang trang sáng sủa nhất huyện đến phòng phát thanh tre nứa cao vút, từ những ngày làng nổi dậy đến những ngày ông cùng anh em đào giao thông hào. Cái gò… Càng nghĩ đến, nỗi nhớ nhà trong lòng ông Hai càng trào dâng trong lòng. “Ôi, già nhớ làng quá. Nhớ làng quá!”.

Niềm an ủi lớn nhất của ông Hai là thứ năm được đến nhà ông chú tâm tình, đi chợ rau, đến phòng thông tin nghe tin tức kháng chiến chống Nhật…

Nghe tin giặc đuổi vào làng thử lòng yêu làng của ông Hai:

Dù ở làng hay nơi sơ tán, tình yêu làng của ông vẫn nồng nàn, chân thành. Rồi một tình huống xảy ra thử thách tình yêu hoài cổ của Hải. Đúng lúc này, anh nghe tin làng Daoji thân yêu của mình đang theo Tây để lừa đảo. Từ đó, người đọc sẽ thấy ngoài tình cảm thiêng liêng của ông Hai dành cho thôn Tổ Đạo, còn có một tình cảm khác, thiêng liêng hơn. Đó là tình yêu chiến tranh, tình yêu Bác Hồ…

Một ngày bình yên trong mái ấm:

Trong phòng tuyên truyền thông tin, ông Hải lắng nghe và cảm thấy khâm phục, tự hào trước những tấm gương anh dũng trong kháng chiến. Quân ta đại thắng, ông mừng quá lấy hết can đảm “Lão già can đảm nhảy lên rồi. Mừng quá!”.

Khi nghe tin dữ: “Làng Chợ Dầu theo giặc, dân Chợ Dầu tội ác Việt Nam”.

Ngay sau đó, ông nhận được tin dữ từ những người tản cư – cả làng Đạo trở thành người Việt theo giặc. Cảm giác bất ngờ, hụt hẫng khiến ông lão “cổ họng im bặt, da mặt tê dại”, “thầm thì” và “cạn hẳn tiếng nói”. Mặc dù vậy, anh vẫn hỏi cô với một tia hy vọng, nhưng hiện thực phũ phàng khiến anh cúi đầu tủi nhục, quay mặt đi. Về đến nhà, anh không thể chịu đựng được nữa, “lên giường nằm” “nhìn đứa con mà tủi thân, ông già òa khóc”.

Những ngày tiếp theo:

Những ngày sau đó, ông Hải sống trong bi kịch. Anh không dám lẩn trốn như một tên tội phạm: “Dường như anh luôn nghĩ mọi người chú ý bàn tán về ‘chuyện ấy’. Sau khi biết tin dữ, nỗi ám ảnh nặng nề, cảm giác đau đớn, tủi nhục của anh Hải biến thành nỗi sợ hãi thường trực.

Bi kịch lên đến đỉnh điểm. Bà chủ muốn đuổi cả nhà đi, anh Hải lâm vào cảnh tuyệt vọng. bây giờ bạn đang đi đâu Khắp nơi, “đâu đâu cũng nghe dân làng chợ nói dân đuổi như hủi”. Ai muốn chứa chấp những người từ làng Việt Nam giả tạo này một lần nữa? Cả gia đình đang phải đối mặt với tình huống “làm việc xuất sắc”!

Chỉ có hai con đường trước mặt anh. Không thể ở lại. Còn làng… Vừa nghĩ đến đây, anh Hai gạt ngay. “Về làng mà cho Việt gian theo Tây”, Người khẳng định: “Về làng là phản kháng chiến, phản Bác Hồ”. Dù luôn mong muốn được trở về làng nhưng lúc này ông Hai đã đưa ra một quyết định đau đớn: “Làng thương cô, làng sẽ theo Xi để trả thù cho cô”.

Mâu thuẫn nội tâm và hoàn cảnh trước mắt khiến ông Hai rơi vào tình thế khó xử. Ông Hai chỉ còn biết bộc lộ tâm trạng bị kìm nén, cứng đờ của mình bằng lời thủ thỉ với đứa con thơ ngây. Qua tâm sự của anh, anh hiểu được nỗi nhớ quê và lòng trung thành của anh với cách mạng và Kháng chiến.

Ngày nay, từ tấn bi kịch của ông Hai, ta lại thấy một thứ tình cảm cao cả khác tỏa sáng. Đó chính là tinh thần yêu nước, là nỗi nhớ Kháng chiến, là nỗi nhớ Bác Hồ, tình cảm thiêng liêng ấy ẩn chứa tình cảm quê hương sâu nặng.

Khi tin xấu được sửa chữa:

Vì vậy, khi nghe tin Làng Đạo phía Tây được chấn chỉnh, ông Hai là người vui nhất. Anh vui vẻ, rạng rỡ “miệng nhai trầu, mắt đỏ hoe…” Mua quà cho lũ trẻ, anh chạy đến “khoe” tin nhà cháy và “cho” tin của làng mình. Dau không theo chiến tranh. Cảm giác mất quê hương dường như tan biến trong niềm hạnh phúc ngập tràn-Zudao Village, ngôi làng mà anh luôn yêu quý và tự hào, vẫn là một ngôi làng nổi loạn.

Qua lời khoe của anh Hải, điều khiến chúng tôi cảm động là khi ngôi nhà của anh bị cháy, anh không hề tiếc nuối hay đau buồn. Niềm vui làng không đuổi giặc dâng lên trong lòng. Tất cả đau đớn và buồn phiền đều bị cuốn trôi.

Anh khoe cách Tây đốt nhà mình là biểu hiện cụ thể cho ý chí của một người lao động bình thường “thà hy sinh tất cả chứ không chịu mất quê hương”. Việc ông thuật lại rõ ràng trận làng Chợ Dầu chống quân xâm lược thể hiện rõ tinh thần kháng chiến và niềm tự hào về làng kháng chiến của ông.

Có thể nói, ông Hai là một nhân vật tiêu biểu của giai cấp nông dân trong kháng chiến chống Nhật cứu nước. Là những người lương thiện, họ còn bỡ ngỡ khi lần đầu tiếp xúc với cách mạng. Nhưng cảm giác này nhanh chóng tan biến, và họ chào đón cuộc cách mạng với tình cảm chân thành và sự nhiệt tình nồng nhiệt. Họ háo hức tham gia Kháng chiến và hăng hái học cách bảo vệ ngôi nhà của mình bằng súng. Cách mạng đã trở thành một phần cuộc sống của họ. Chúng ta vô cùng cảm động trước lòng trung thành và tình cảm gắn bó bền chặt của nông dân trong cuộc kháng chiến chống Nhật. Nhà văn Kim Lan đã tinh tế phát hiện ra vẻ đẹp của tấm lòng người nông dân, từ đó khắc họa nên bức chân dung gần gũi, sinh động.

Chính vì nghệ thuật miêu tả tâm lí nông dân và ngôn ngữ nhân vật của Kim Lan mà nhân vật ông Hai đã để lại một dấu ấn khó phai. Quả thật, Kim Lân đã khắc họa rất thành công hình ảnh ông Hai, ông là một người dân lúc bấy giờ, giản dị, chân chất, một điển hình của tầng lớp nông dân Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám. Họ đặt lòng yêu nước lên trên tình yêu quê hương. Kim Lân thực sự thành công trong nghệ thuật xây dựng truyện, đặc biệt là nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ nhân vật điển hình của ông Hai. Câu nói của ông Hai đúng là của nông dân lúc bấy giờ, có câu sai: “Chú Thứ… láo! Chú lười! Tất cả là cố ý sai.”

Ngoài ra, Jin Lan còn khắc họa thành công tâm lý nhân vật. Diễn biến tâm lý của biển từ đầu đến cuối truyện thật cảm động. Yêu ngôi làng này đến nỗi đi đâu bạn cũng khoe nó. Khi biết làng bị nghi đầu hàng giặc, ông rất buồn, khi biết làng mình không theo giặc, ông mừng lắm, thậm chí còn khoe khoang cái tin nhà mình bị đốt phá, vui mừng khôn xiết. hả hê.Dựng được những chi tiết đó, Miêu tả diễn biến tâm lí của những nhân vật này, Kim Lân chứng tỏ tài năng của mình.

Qua hình ảnh ông Hai, chúng ta càng hiểu hơn về cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc và vì sao một nước nhỏ bé như Việt Nam lại có thể đánh thắng Pháp, kẻ thù đầu sỏ của chủ nghĩa thực dân. Sự thay đổi tình cảm trong nhân vật ông Hai cũng là sự thay đổi mới trong tình cảm của người nông dân Việt Nam những ngày đầu kháng chiến chống Pháp: từ yêu nước, yêu nước một cách tự phát sang yêu nước và yêu nước một cách có ý thức, đứng về phía nhân dân. chống Nhật cứu nước, ủng hộ cách mạng, ủng hộ Bác Hồ, ủng hộ cuộc đấu tranh của cả dân tộc.

Tham Khảo Thêm:  Cách làm bài nghị luận về một tác phẩm văn học điểm cao

Related Posts

Nghị luận: Cái mất đáng tiếc là thời gian. Cái mất đáng lo là cơ hội. Cái mất đáng buồn là niềm tin. Cái mất đáng sợ là tình người

Mất mát đáng tiếc là thời gian. Lo lắng mất mát là cơ hội. Một mất mát đáng buồn là niềm tin. Mất mát ghê gớm là…

Vẻ đẹp phong cách nhà Nho trong Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ và Bài ca ngắn đi trên bãi cát của Cao Bá Quát.

Vẻ đẹp phong cách nhà Nho trong Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ và Bài ca ngắn đi trên bãi cát của Cao Bá Quát….

Những lỗi thường bị trừ điểm trong bài làm văn của học sinh.

Những lỗi thường bị trừ điểm trong bài làm văn của học sinh. I. Những lỗi thường gặp trong bài làm văn của học sinh. 1. Lỗi…

Những lưu ý khi tiến hành làm bài văn nghị luận.

Những lưu ý khi viết luận văn. 1. Trước khi lên lớp học sinh phải phân tích đề. – Chỉ định định dạng tiêu đề. – Xác…

Cách làm bài văn nghị luận văn học không bị lạc đề.

Cách làm bài văn nghị luận văn học không bị lạc đề. A. Mở đầu. Trong khi làm bài văn nghị luận về tác phẩm văn học,…

Nghị luận: Thơ ca là cái đẹp đi tìm

tranh luận: thơ là vẻ đẹp được tìm kiếm. Một chuyên gia thẩm mỹ cho biết: Tất cả các thể chế chính trị đều qua đi, chỉ…

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *