Đề thi HSG Ngữ văn 10. Chủ đề 1: Trở thành người bình thường hay người đặc biệt? Chủ đề 2: “Văn học làm cho con người thêm phong phú, tạo khả năng cho con người lớn lên, hiểu được con người nhiều hơn”. (M.L.Kalinine).

de-thi-hsg-ngu-van-10-tro-thanh-nguoi-binh-thuong-hay-nguoi-dac-biet-van-hoc-lam-cho-con-dân-chúng-phong-phu-tao- đứa trẻ
trường trung học đặc biệt
tuyên ngôn
làm bài kiểm tra Chọn TRẠI HÙNG VƯƠNG LẦN THỨ XV
văn học khối mười
đề thi thời gian làm việc: người đầu tiênsố 80 phút (không kể thời gian thi đấu)
(tiêu đề làm bài kiểm tra Gồm trang 01)

Câu 1 (8,0 điểm).

Đọc đoạn trích dưới đây:

giới trẻ: Dám làm người thường…?

triết gia: Tại sao “đặc biệt” lại quan trọng? Có lẽ là do tôi không thể chấp nhận một “tôi bình thường”. Vì vậy, khi một người không thể là “tinh hoa của chính quyền”, anh ta sẽ đi đến cực đoan và trở nên “được nuông chiều một cách lạ thường”. Nhưng cho tôi hỏi, làm người bình thường, không đặc biệt, có gì xấu, có gì đáng tự ti? Mọi người có bất thường không? Đây là một cái gì đó đòi hỏi phải xem xét cẩn thận.

giới trẻ: …ý bạn là tôi muốn “bình thường”?

triết gia: Tự chấp nhận là một bước quan trọng. Nếu anh ấy có “can đảm để trở thành người bình thường”, cách anh ấy nhìn thế giới chắc chắn sẽ thay đổi.

giới trẻ: Nhưng…

triết gia: Anh ấy từ chối trở thành một người bình thường, có lẽ vì anh ấy coi “người bình thường” là từ đồng nghĩa với “không có khả năng”. Chỉ vì bạn là một người bình thường không có nghĩa là bạn không có tài năng. Chúng ta không cần phô trương sức mạnh của mình.

giới trẻ: Tôi nhận ra rằng có một mối nguy hiểm nhất định khi cố gắng “trở nên đặc biệt”. Nhưng có nhất thiết phải chọn làm một người “bình thường”, sống một cuộc đời tẻ nhạt, chẳng để lại gì giá trị và sẽ chẳng ai nhớ đến, bằng lòng với việc mình chỉ ở mức đó? Bạn phải đùa tôi! Tôi sẵn sàng từ bỏ cuộc sống của mình mà không hối tiếc!

triết gia: Rốt cuộc bạn vẫn muốn trở nên “đặc biệt”, phải không?

giới trẻ: KHÔNG! Chấp nhận cái mà anh ấy gọi là “bình thường” là khẳng định bản thân lười biếng, nghĩ rằng đây là con đường duy nhất để đi. Tôi từ chối một cuộc sống lười biếng như vậy! Bạn có nghĩ rằng Napoléon hay Alexander Đại đế, Ernst Mehr, Martin Luther King Jr. hay thậm chí Socrates và Plato yêu quý của bạn có thể được gọi là “bình thường” không? Tôi có! Tất nhiên họ sống có mục tiêu và lý tưởng cao cả! Theo lý luận của tôi, Napoléon chưa bao giờ được sinh ra. Bạn đang hủy hoại thiên tài!

triết gia: Bạn có nghĩ rằng cuộc sống nên có những mục tiêu cao cả?

giới trẻ: chắc chắn!

(Dám bị ghét, Fumiko Koga-Ichiro Kishimi, NXB Lao Động Xã Hội)

Cuộc đối thoại giữa thanh niên và triết gia nhắc bạn chọn trở thành mẫu người nào: người bình thường hay người đặc biệt?

Câu 2 (12,0 điểm)

Văn học làm giàu cho con người, làm cho con người trưởng thành và hiểu con người hơn“. (ML Kalinin).

Hãy làm sáng tỏ câu hỏi bằng một số đoạn trích/tác phẩm thuộc văn học dân gian và văn học trung đại Việt Nam đã học ở lớp 10.

Tham Khảo Thêm:  Kiến thức về thơ (Luyện thi học sinh giỏi văn).

– – – -sử dụng hết- – – –

trường trung học đặc biệt
tuyên ngôn
làm bài kiểm tra Chọn TRẠI HÙNG VƯƠNG LẦN THỨ XV
văn học khối mười
mô tả điểm thời gian làm việc: người đầu tiênsố 80 phút (không kể thời gian thi đấu)
(tiêu đề làm bài kiểm tra Gồm trang 01)
câu Nội dung chính của việc thực hiện Xem
người đầu tiên Cuộc đối thoại giữa thanh niên và triết gia nhắc bạn chọn trở thành mẫu người nào: người bình thường hay người đặc biệt? 8,0
1. Yêu cầu Kỹ năng:

– Có kĩ năng làm văn nghị luận xã hội và biết huy động kiến ​​thức sách vở, kiến ​​thức đời sống và kinh nghiệm của bản thân để làm bài thi.

– Sử dụng các thao tác lập luận phù hợp, lập luận chặt chẽ, diễn đạt khoa học, diễn đạt lưu loát, không mắc lỗi chính tả, dùng từ đặt câu.

– Bài viết có cảm xúc và thể hiện được suy nghĩ, tư tưởng của tác giả.

hai. Yêu cầu kiến ​​thức: Có nhiều cách để học sinh trình bày nhưng cần đạt được những nội dung cơ bản sau:

1. Mô tả:

– Tóm tắt truyện: Cuộc đối thoại giữa một triết gia và một anh thanh niên về quan niệm sống.

Người bình thường:Mọi người sống cuộc sống bình thường và bình thường. Theo nhà triết học, một người bình thường không có nghĩa là anh ta không có tài năng, chỉ là một người không phô trương sự vượt trội của mình, chấp nhận chính mình.

– Người đặc biệt: Con người đã sống những cuộc đời phi thường, đặc biệt; những hành động và trí thông minh kiệt xuất; những đóng góp vĩ đại và phi thường. Trong quan niệm của giới trẻ, những người đặc biệt sống một cuộc đời không nhàm chán.

→ Kể câu chuyện quan niệm về giá trị con người dưới hình thức đối thoại giữa triết gia (người có kinh nghiệm dày dặn, hiểu biết sâu rộng) và thanh niên (người trẻ có khát vọng cao đẹp).

1,5
2. Nhận xét và lời chứng thực:

Học sinh đưa ra lựa chọn dựa trên yêu cầu lựa chọn chủ đề. Tùy thuộc vào phương án đã chọn, học sinh phải trình bày các lập luận và bằng chứng hợp lý và thuyết phục bằng cách sử dụng quan điểm của câu chuyện.

* trở thành người bình thường

– Giá trị của tùy chọn khẳng định:

+ Làm người bình thường là dám chấp nhận giá trị của bản thân: không tự kiêu với thành tích của bản thân, không cười nhạo mình vì những yếu kém, khuyết điểm của mình…Nhận ra bản thân và chấp nhận bản thân là cách sống viên mãn nhất.

+ Là một con người bình thường, tránh những ham muốn và tham vọng tột độ, không kỳ vọng quá nhiều vào cuộc sống, không quá thất vọng trước những trở ngại, và bằng lòng với những thành quả đạt được.

+ Sống đời thường, người ta dễ dàng cân bằng được các yếu tố và khía cạnh của cuộc sống: tận tụy và hưởng thụ, làm việc và vui chơi, học tập và nghỉ ngơi… với chất lượng cuộc sống tốt.

– Trở thành người bình thường: đòi hỏi sự nỗ lực không ngừng. Con người luôn có khát khao trở nên đặc biệt, vì vậy dám trở nên bình thường cũng là một sự lựa chọn dũng cảm.

* Trở thành một người đặc biệt

– Giá trị của tùy chọn khẳng định:

+ Khác biệt nghĩa là sống phi thường, tạo ra giá trị phi thường, khác biệt.

+ Trở thành một ai đó đặc biệt là cách khẳng định giá trị bản thân triệt để nhất.

+ Sống một cuộc sống đặc biệt, nơi được mọi người tôn trọng và ghi nhớ.

Để khác biệt: bạn phải có mục tiêu và lý tưởng cao cả.

(Học ​​sinh phân tích dẫn chứng. Có thể kết hợp liên hệ cá nhân và bày tỏ ý kiến ​​cá nhân)

4.0
3. Câu hỏi mở rộng, nâng cao:

– Với mỗi phương án, nêu hạn chế:

+ Là người bình thường dễ bị lầm tưởng là sống tẻ nhạt, lười biếng, vô giá trị.

+ Trở thành một ai đó đặc biệt có thể khiến người ta quên đi giá trị và ý nghĩa bình thường nhưng cần thiết của cuộc sống.

Dù bạn chọn trở thành người như thế nào, bạn cần biết đúng, sống đúng, sống tích cực và trân trọng cuộc sống.

1,5
4. Bài học kinh nghiệm:

Câu chuyện này mang đến những suy nghĩ và nhận thức về sự lựa chọn trong cuộc sống.

-Suy nghĩ và nhận biết chính xác về mình.

1.0
2 12,0
1. Yêu cầu Kỹ năng:

– Có năng lực làm văn nghị luận văn học, biết huy động kiến ​​thức lí thuyết và kiến ​​thức tác phẩm để làm bài.

– Sử dụng các thao tác lập luận phù hợp, lập luận chặt chẽ, diễn đạt khoa học, diễn đạt lưu loát, không mắc lỗi chính tả, dùng từ đặt câu.

– Bài viết có chất văn học, thể hiện được cảm thụ và khả năng biểu cảm về văn học.

hai. Yêu cầu kiến ​​thức: Có nhiều cách để học sinh trình bày nhưng cần đạt được những nội dung cơ bản sau:

người đầu tiên. giải thích:

Văn học là tác phẩm tái hiện cuộc sống và những vấn đề của con người.

Chức năng của Literary Enricher:

+ Tìm hiểu thêm về cuộc sống, tìm hiểu về con người ở Trung Quốc cổ đại và hiện đại cũng như nước ngoài, đồng thời có thêm những hiểu biết và kinh nghiệm mới về cuộc sống.

+ Cảm nhận được những cung bậc cảm xúc trong thế giới nội tâm của con người, lòng người sẽ phong phú hơn, con người có tình cảm tốt đẹp sẽ được vun đắp

+ Có những bài học, triết lý mới sâu sắc về cuộc sống.

1,5
2. Nhận xét:

Một. “Người giàu văn học”

Văn học là tấm gương phản chiếu cuộc sống và là cuốn bách khoa toàn thư về cuộc sống. Thông qua văn học, con người hiểu biết sâu sắc hơn về tự nhiên, xã hội và bản thân.

– Mặt khác, văn học là “tiếng nói của cảm xúc, là sự bộc lộ và bộc lộ của tư tưởng” (Lê Ngọc Trà), qua đó người ta tìm thấy chính mình và cảm nhận cảm xúc. Sự đa dạng của thế giới nội tâm con người, để được bày tỏ, để đồng cảm, để chia sẻ, để khơi gợi những tình cảm không có, giả tạo những cái có.

Và, mỗi tác phẩm văn học là một trải nghiệm, một cơ hội du hành xuyên thời gian và không gian, vượt qua mọi ranh giới và giới hạn, để trải nghiệm nhiều hơn, cảm nghiệm nhiều hơn về cuộc sống. Những mảnh đời khác nhau, nhìn cuộc đời qua nhiều lăng kính, lắng nghe nhiều luồng tư tưởng, trò chuyện với nhà văn… kinh nghiệm sống ngày càng phong phú.

b.Vì vậy, văn học “tạo khả năng giúp con người trưởng thành”.

– Từ những trải nghiệm đó, văn học giúp con người trưởng thành về nhân cách và tâm hồn, sống phong phú và có ý nghĩa hơn.

– Con người biết cảm thông, chia sẻ, đồng cảm với niềm vui nỗi đau của con người.

——Đối tượng phản ánh của văn học là con người trong các mối quan hệ xã hội, được phản ánh qua lăng kính thẩm mỹ. Thông qua văn học, độc giả có thể tìm hiểu thêm về mọi người và về chính họ.

c. chỉ nếu:

——Nhà văn phải là người “cho máu”, phải thấu hiểu, đồng cảm và phản ánh những vui buồn yêu hận, khúc ca vui tươi hay tiếng kêu đau đớn, đó là những khát khao cháy bỏng nhất của con người thời đại mình…;Biết cách đặt câu hỏi, hiểu một con đường, một hướng phát triển của thời đại.

– Khi người đọc tiếp nhận tác phẩm cũng phải chạm vào sợi dây mà tác giả đã căng trong tác phẩm để rung động cùng âm thanh, giai điệu. Chỉ có hiểu tác phẩm và đồng cảm với tác giả, người đọc mới có thể hoàn thành quá trình văn học khiến con người trưởng thành.

3.0
3. Bằng chứng: Học sinh tự chọn tác phẩm, nêu rõ các khía cạnh sau:

– Văn học làm phong phú nhận thức và tri thức của con người (xã hội, lịch sử, nhân vật, triết lý sống)

Văn chương làm giàu tâm hồn con người, vun đắp những tình cảm cao thượng.

*Lưu ý: Học sinh phải trích dẫn ít nhất hai tác phẩm khác nhau (văn học dân gian và văn học trung đại).

6,0
4. Đánh giámở rộngtrình độ cao:

——Quan điểm trên khẳng định chức năng cao cả của văn học là phục vụ con người, hướng con người tới chân, thiện, mỹ.

——Từ việc hiểu được vai trò của văn học, đến vai trò quan trọng của việc học tác phẩm văn học, hình thành lòng yêu thích, say mê học tập, trân trọng giá trị văn học.

1,5
tất cả điểm chủ đề đầy đủ 20,0
Tham Khảo Thêm:  Qua bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy, hãy làm sáng tỏ ý kiến: Thơ hay là thơ giản dị, xúc động và ám ảnh (Trần Đăng Khoa)

Related Posts

Nghị luận: Cái mất đáng tiếc là thời gian. Cái mất đáng lo là cơ hội. Cái mất đáng buồn là niềm tin. Cái mất đáng sợ là tình người

Mất mát đáng tiếc là thời gian. Lo lắng mất mát là cơ hội. Một mất mát đáng buồn là niềm tin. Mất mát ghê gớm là…

Vẻ đẹp phong cách nhà Nho trong Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ và Bài ca ngắn đi trên bãi cát của Cao Bá Quát.

Vẻ đẹp phong cách nhà Nho trong Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ và Bài ca ngắn đi trên bãi cát của Cao Bá Quát….

Những lỗi thường bị trừ điểm trong bài làm văn của học sinh.

Những lỗi thường bị trừ điểm trong bài làm văn của học sinh. I. Những lỗi thường gặp trong bài làm văn của học sinh. 1. Lỗi…

Những lưu ý khi tiến hành làm bài văn nghị luận.

Những lưu ý khi viết luận văn. 1. Trước khi lên lớp học sinh phải phân tích đề. – Chỉ định định dạng tiêu đề. – Xác…

Cách làm bài văn nghị luận văn học không bị lạc đề.

Cách làm bài văn nghị luận văn học không bị lạc đề. A. Mở đầu. Trong khi làm bài văn nghị luận về tác phẩm văn học,…

Nghị luận: Thơ ca là cái đẹp đi tìm

tranh luận: thơ là vẻ đẹp được tìm kiếm. Một chuyên gia thẩm mỹ cho biết: Tất cả các thể chế chính trị đều qua đi, chỉ…

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *